Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 708/2024/DSST.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024.

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Vân.
  2. Bà Mai Thị Tám.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11/9/2024 và ngày 16/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 142/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 549/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Mai Văn N, sinh năm: 1961 (có mặt)

Địa chỉ: 2 đường N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Trịnh Phước V, sinh năm: 1973. (vắng mặt)

Thường trú: 165/12 đường V, phường H, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Mai Ngọc Q, sinh năm: 2003; (vắng mặt)
  2. Thường trú: 165/12 đường V, phường H, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Mai Thị C, sinh năm: 1969; (văng mặt)
  4. Địa chỉ: số A đường H, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1962;
  6. Địa chỉ: 2 đường N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của bà C1 có ông Mai Văn N, sinh năm: 1961 (có mặt)

Địa chỉ: 2 đường N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người làm chứng: Ông Mai Thanh N1, sinh năm: 1968; (có mặt)

Địa chỉ: 1 đường T, khu phố A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Mai Văn N trình bày:

Từ năm 1979 đến nay, ông (Mai Văn N) đã sử dụng liên tục và ổn định phần đất có diện tích 3.134,9m² thuộc các thửa 208, 209 và 210 tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại xã T, huyện C, TP . (theo tài liệu sơ đồ vị trí năm 2004) trong đó có 200m² thuộc thửa đất 209 được ông sử dụng làm nhà ở để cho cả gia đình sinh sống cũng từ năm 1979.

Vào năm 2007, sau khi ngôi nhà cũ bị xuống cấp trầm trọng thì ông đã xây dựng nhà ở kiên cố (diện tích ngôi nhà 108.4m²) trên nền nhà cũ thuộc phần đất có 300m² đất ở thuộc thửa 209, tờ bản đồ số 5 nêu trên.

Năm 2008, khi ông thực hiện hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 3.134,9m² thuộc các thửa 208, 209 và 210, tờ bản đồ số 05 nêu trên thì mới được biết, phần đất có diện tích 246m² thuộc một phần thửa 209 và 210 (trong 246m² này bao gồm cả ngôi nhà được ông xây dựng kiên cố để sinh sống) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha ông là Mai Văn N2.

Sau khi biết được sự việc trên ông đã có đơn khiếu nại gửi Ủy ban nhân dân TỦy ban nhân dân huyện C xem xét giải quyết điều chỉnh lại Giấy chứng nhận đã cấp cho ông Mai Văn N2.

Sau đó, Ủy ban nhân dân huyện C đã ra văn bản số 3821/UBND - VP để chỉ đạo và giao chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T kiểm tra hồ sơ và giải quyết cho ông.

Sau nhiều lần được Ủy ban nhân dân xã T mời lên làm việc hòa giải, thì tại Biên bản hòa giải ngày 20/7/2012 thì ông Mai Văn H là người đại diện của ông Mai Văn N2 đã đồng ý giao trả lại cho ông phần đất có diện tích 246m² thuộc các thửa 209, 210 và ông H cũng đồng ý sẽ chỉnh lại Giấy chứng nhận để giao phần đất trên lại cho ông.

Sau đó, ông đã thực hiện cắm cột mốc xung quanh phần đất và đến nay đã được rào bằng lưới B40 bao quanh phần đất mà ông đang sử dụng.

Sau này, phần đất mà ông Mai Văn N2 được cấp Giấy chứng nhận nêu trên đã được chuyển giao lại cho ông Mai Văn H.

Tuy nhiên, trong quá trình ông làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa 208, 209 và 210, tòa bản đồ số 05 nêu trên, thì phía ông Mai Văn H lại không chịu hợp tác ký giáp ranh để ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không thực hiện điều chỉnh lại giấy chứng nhận để trả 246m² thuộc thửa 209, 210 cho ông theo biên bản hòa giải ngày 20/7/2012. Dù phía Ủy ban nhân dân xã T đã nhiều lần vận động, giải thích nhưng phía ông Mai Văn H vẫn cố tình không ký vào biên bản mô tả ranh giới đất để ông hoàn thành hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nên ngày 02/6/2021, ông đã có làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T giải quyết tranh chấp giữa ông với ông Mai Văn H.

Trong quá trình chờ Ủy ban nhân dân xã T giải quyết thì ông Mai Văn H đã mất vì đại dịch covid -19, nên Ủy ban nhân dân xã T đã tổ chức hòa giải vào các ngày 22/5/2022 và 13/6/2022 mời ông và bà Trịnh Phước V (vợ của ông Mai Văn H) là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất do ông Mai Văn H đứng tên bao gồm 246m² ông H cam kết trả lại cho ông, nhưng phía bà Trịnh Phước V không phối hợp lên làm việc nên việc hòa giải không thể tiến hành.

Ngày 30/6/2022, Ủy ban nhân dân xã T đã ra Thông báo số 1614/TB-UBND về việc hòa giải tranh chấp ranh đất để ông được biết và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Do đó, việc bà Trịnh Phước V không thực hiện ký vào biên bản mô tả ranh giới đất để ông hoàn thành việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc bà không thực hiện điều chỉnh lại Giấy chứng nhận để trả lại phần đất 246 m² thuộc thửa 209, 210 tờ bản đồ số 5 cho ông theo như cam kết của chồng (ông Mai Văn H) là đã xâm phạm và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.

Nay ông làm đơn này kính mong Quý Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xem xét, giải quyết cho ông những yêu cầu sau:

  • + Công nhận phần đất có diện tích tích 3.134,9m² thuộc các thửa 208, 209 và 210, tòa bản đồ số 05, tọa lạc tại xã T, huyện C, Tp . (theo tài liệu sơ đồ vị trí năm 2004), trong đó có 246m² đất ở thuộc một phần của các thửa 209, 210 nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Mai Văn H là thuộc quyền sử dụng của ông (Mai Văn N).
  • + Buộc bà Trịnh Phước V phải thực hiện điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để trả lại phần đất 246m² thuộc một phần thửa 209, thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, Tp . cho ông (Mai Văn N).

Ngày 25/10/2022, Ông sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu bà Trịnh Phước V trả lại phần đất diện tích 246 m² thuộc một phần thửa 209, thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, Tp . cho ông là Mai Văn N. Buộc bà Trịnh Phước V phải thực hiện điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để trả lại phần đất diện tích 246 m² thuộc một phần thửa 209, thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, Tp . để ông hoàn thành hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 09/02/2023, Ông sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau: Buộc bà Trịnh Phước V trả lại phần đất diện tích 246 m² thuộc thửa 209, thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, Tp . cho ông là Mai Văn N; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, Tp . có số phát hành là BP014499, số vào sổ cấp GCN: CH05769 do UBND huyện C cấp ngày 12/7/2013 cho ông Mai Văn H đứng tên (hiện do bà Trịnh Phước V là người thừa kế và trực tiếp quản lý, sử dụng).

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trịnh Phước V trình bày:

Theo đơn khởi kiện của ông Mai Văn N. Buộc bà, Trịnh Phước V phải thực hiện điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 246m² thuộc 1 phần thửa 209, 210 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cho ông. Lời khai của ông N là hoàn toàn sai trái không đúng với sự thật nên ông không đồng ý.

Trước năm 1975 đến khi trường tiểu học mở rộng xây trường học trước nhà bà, nên nhà bà không có lối đi riêng, cho nên chính quyền ấp, xã có cấp cho gia đình bà một lối đi ngang nghĩa trang (đi chung với những người đi thăm mộ) nên gia đình bà cảm thấy bất tiện.

Sau đó chồng bà là Mai Văn H em ruột của ông Mai Văn N có thỏa thuận đổi đất lấy đường đi.

  • - Lần 1: Thỏa thuận đổi đất lấy đường giáp nghĩa địa ông N không đồng ý
  • - Lần 2: Thỏa thuận đổi đất lấy đường giáp sau lưng trường học (ông N đồng ý) có ra chính quyền trình bày thỏa thuận xong (theo yêu cầu 2 bên thống nhất là đổi 246 m² đất lấy đường cho gia đình tôi).

Sau khi thỏa thuận xong chồng bà và ông N, (em bà con: Mai Thanh N1) cùng đồng ý dời cọc lùi về phần đất của chồng tôi để đổi 246 m² cho Mai Văn N để gia đình tôi có đường đi (phòng khi bệnh hoạn, hỏa hoạn).

Từ năm 2013 đến nay (9 năm) ông N không khởi kiện và xây nhà trên phần đất 246 m² nhưng gia đình bà vẫn chưa có đường đi do ông N kéo dài thời gian đổi phần đất 246 m² lấy đường.

Đến năm 2021 do do dịch C2 hoành hành chồng bà bị nhiễm bệnh và mất vào năm 2021. Lợi dụng chồng bà mất và bà bị bệnh phải nằm viện ông N nộp đơn kiện ông.

Cha mẹ chồng bà cho chồng bà tổng diện tích 2.028,2m² (Thửa đất số 210). Trong đó có 246 m² nằm trên tổng diện tích đó - ba mẹ chồng bà cho bao nhiêu chồng bà lấy bấy nhiêu không lấn chiếm của ai 1 tấc đất nào.

Nếu có điều chỉnh thì chồng bà sẽ thông báo cha chồng bà biết để ký chấp nhận.

Cho nên bà nghi ngờ có sự gian dối và yêu cầu Tòa án giám định chữ ký, sức khỏe, tuổi tác, thời điểm lúc cha chồng bà ký.

Bà yêu cầu cơ quan chức năng thụ lý hồ sơ này xuống địa phương ấp, xã, xác minh thực tế để trả lại công bằng cho chồng bà và bà.

Ngày 26/6/2023, bà Trịnh Phước V trình bày: Bà vẫn giữ nguyên các, lời khai trước đây tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Nguồn gốc có diện tích 246m² thuộc 1 thửa 210 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh do ông Mai Văn H (chồng bà) đứng sở hữu đã được Ủy ban nhân dân huyện C công nhận và trả lời bằng văn bản thông báo số 252/TB-UBND. Ngày 15/6/2011, thông báo này đã công nhận phần đất 246m² là của chồng bà. Nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Mai Văn N. Việc thỏa thuận đổi đất lấy đường đi chỉ có chồng bà, ông N, ông N1 thỏa thuận miệng với nhau không có văn bản.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Mai Ngọc Q trình bày: Bà hoàn toàn đồng ý với ý kiến của mẹ bà là bà Trịnh Phước V. Bà là con của ông Mai Văn H và mẹ tên Trịnh Phước V.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Mai Thị C trình bày: Bà là chị em ruột của ông N và ông H, lúc trước nhà ông Nông s, ông N xây dựng lại mới nhưng không xây dựng trên phần đất cũ mà xây dựng lấn qua đất của ông H, vì tình chị em ruột nên bà không nói gì, sợ mít lòng giữa các anh em nên bà không báo chính quyền địa phương, để cho ông N xây dựng mới nhà để ở. Còn việc đổi đất gì đó bà không biết.

Người làm chứng, ông Mai Thanh N1 trình bày:

Ông tên Mai Thanh N1 mối quan hệ giữa ông và Mai Văn N và anh Mai Văn H, ông là con của người thứ ba, còn 2 anh ông là con của ông Mai Văn N2 (con nhà chú bác). Trước thời gian khoảng 10 năm và trước giữa anh N và anh H có thống nhất với nhau là đổi đường lấy đất và ngược lại đổi đất lấy đường. Ông là người bà con trong gia đình làm trung gian và đứng ra cùng với hai anh dời cọc bê tông như hiện trạng như bây giờ. Nhưng suốt thời gian đã qua anh N không giao đường. Đến mùa dịch Covid-19 anh H bị C2 qua đời anh N khởi kiện. Việc dời cọc là hoàn toàn có thật và đã được Ủy Ban xã T họp và xác nhận, còn việc anh N thua kiện thì do cơ quan pháp luật giải quyết.

Tại phiên tòa:

Ông N trình bày: Tôi giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn, cụ thể:

Buộc bà Trịnh Phước V trả lại phần đất diện tích 246 m² thuộc thửa 209, thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cho ông là Mai Văn N; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh có số phát hành là BP014499, số vào sổ cấp GCN: CH05769 do UBND huyện C cấp ngày 12/7/2013 cho ông Mai Văn H.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong hồ sơ vụ kiện do ông N cung cấp có biên bản làm việc không có ngày tháng vào năm 2020 và biên bản làm việc không có ngày tháng vào năm 2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xác minh làm rõ hai biên bản làm việc này trước khi xét xử.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi chỉ phát biểu về tố tụng, không phát biểu về nội dung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi buộc bà Trịnh Phước V trả lại phần đất diện tích 246 m² thuộc thửa 209, thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cho ông; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH05769 do UBND huyện C cấp ngày 12/7/2013 cho ông Mai Văn H. Đây là tranh chấp về dân sự, quan hệ tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Mai Văn H là giấy cập nhật biến động, sang tên, đổi giấy, không phải giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần đầu, không phải là quyết định hành chính cá biệt nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trịnh Phước V, bà Mai Ngọc Q, bà Mai Thị C đã có bản tự khai và có đơn xin vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà V, bà Q, bà C và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà các bên đương sự cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xác minh làm rõ biên bản làm việc không có ngày tháng vào năm 2020 và biên bản làm việc không có ngày tháng vào năm 2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C trước khi xét xử. Hội đồng xét xử nhận thấy việc xin hợp thức hóa đất của ông Mai Văn N, trong đó có phần đất đang tranh chấp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mai Văn H là yêu cầu, đề nghị của ông N, để thẩm tra yêu cầu, đề nghị của ông N thì Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C phải đi khảo sát thực tế theo đúng trình tự, thủ tục trước khi cấp giấy đất; Trong hai biên bản làm việc của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C, ông Mai Văn H không có phần thể hiện ý kiến và ký tên trong biên bản đối với phần đất ông N xin hợp thức hóa, kết quả là đến nay ông N vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có phần đất đang tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy hai biên bản làm việc trên chỉ mang tính chất khảo sát, tham khảo, không liên quan đến nội dung vụ kiện, do đó không cần thiết xác minh, làm rõ là có cơ sở.

[2] Về nội dung:

Ông Mai Văn N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi buộc bà Trịnh Phước V trả lại phần đất diện tích 246 m² thuộc thửa 209, thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cho ông; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa 210, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại: Xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH05769 do UBND huyện C cấp ngày 12/7/2013 cho ông Mai Văn H.

Sau khi xem xét tất cả các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến nội dung vụ án tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Phần đất đang tranh chấp sau khi đo đạc thực tế có tổng diện tích là 354,2 m²; Trong thửa 210-1 có diện tích là 254,6 m², thửa 209-1 có diện tích là 91,6 m², thửa 208-1 có diện tích là 6,5 m², thửa 218-1 có diện tích là 1,5 m² theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung Tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành Phố H ngày 28/5/2024; Phần đất ông N đang quản lý, sử dụng và đang tranh chấp với bà V thuộc thửa 210-1 có diện tích là 254,6 m², thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH05769 do UBND huyện C cấp ngày 12/7/2013 cho ông Mai Văn H; Trên phần đất tranh chấp hiện trạng có nhà và những công trình xây dựng khác (một phần nằm trên đất của ông N, một phần nằm trên đất của ông H), những công trình xây dựng này xây dựng không phép và đã bị Chính quyền địa phương xử phạt vi hành chính, buộc tháo dỡ nhưng đến nay vẫn còn tồn tại; Năm 2013, do phần đất của ông H không có đường đi vào nhà, muốn đi vào nhà phải đi vòng vòng bằng đường của những người đi thăm mộ, qua nhiều mồ mã, đường nhỏ khó đi; Ông N thì đang xây dựng nhà trên đất của ông H, sau đó hai ông thỏa thuận: ông H sẽ giao cho ông N phần đất 246 m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, đổi lại ông N phải giao cho ông H phần đất tương đương làm con đường đi vô nhà, vị trí nằm giáp ranh với khu mộ hoặc cuối đất giáp với trường học, nhưng đến nay ông N vẫn chưa thực hiện; Năm 2021, Chính quyền địa phương mở con đường đi qua khu mộ và đi vào nhà ông H, ông H bị Covid 19 và đã chết, bà V là vợ ông H thấy đã có đường di vào nhà và chồng thì đã chết nên việc đổi đất lấy đường đi là không cần thiết nữa nên không đồng ý; Phần đất này ông H được tặng cho từ ông Mai Văn N2, cũng là cha của ông Mai Văn N; Ông Mai Văn N2 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2345, ngày 31/12/2001, trong đó có phần đất đang tranh chấp; Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N2 đúng trình tự, thủ tục quy định và cũng không có ai thắc mắc, khiếu nại gì nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nghĩa 1 hợp pháp; Trình tự, thủ tục chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất đúng quy định nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H cũng hợp pháp.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận; Bởi lẻ: Phần đất ông N đang tranh chấp với bà V, đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H (chồng bà Trịnh Phước V) và trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định; Việc đổi đất lấy đường đi vào nhà, phần nghĩa vụ của ông N đến nay vẫn chưa thực hiện, nay đại diện hợp pháp của ông H không đồng ý tiếp tục thực hiện nên không thể thực hiện được.

Trong phần đất ông N đang quản lý, sử dụng ông N chỉ khởi kiện tranh chấp với bà V, không khởi kiện đối với các chủ thể khác nên Hội đồng xét xử không xem xét; Bà V cũng không có yêu cầu gì đối với phần đất ông N đang quản lý, sử dụng nên Hội đồng xét xử cũng không xem xét.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần đất tranh chấp với tổng số tiền là 20.549.011 đồng (Hai mươi triệu năm trăm bốn mươi chín nghìn không trăm mười một đồng), trong đó tiền bản vẽ là 17.549.011 đồng, tiền định giá là 3.000.000 đồng; Nguyên đơn phải tự chịu là phù hợp.

Về tố tụng, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là không có cơ sở nên không chấp nhận.

Về mặt nội dung, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không phát biểu, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận do đó nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nhưng do ông N đã trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12; khoản 1, 5 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều: 164, 189, 190, 197, 198 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 4, 5, 12, 39, 136 của Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn N.

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Mai Văn N về việc buộc bị đơn phải hoàn trả chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần đất tranh chấp với tổng số tiền là 20.549.011 đồng (Hai mươi triệu năm trăm bốn mươi chín nghìn không trăm mười một đồng), trong đó tiền bản vẽ là 17.549.011 đồng, tiền định giá là 3.000.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Mai Văn N phải chịu, nhưng do ông N đã trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Ông N, bà C1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà V, bà Q, bà C không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND H. Củ Chi;
  • - Chi cục THADS H. Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ (19b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 708/2024/DSST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 708/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger