Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 708/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 – 8 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Thức
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 841/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 840/2024/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thụy Hạnh Đ, sinh năm 1975; HKTT và ngụ tại: Số B đường P, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Thành T, sinh năm 1973; HKTT và ngụ tại: Số B đường P, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thụy H Đan trình bày:

Bà và ông Trần Thành T tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 0038 ngày 24/10/1995 (trích lục Kết hôn số 153/2024/TLKH-BS ngày 21/02/2024 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn kéo dài từ năm 2010 cho đến nay. Nguyên nhân theo bà Đ là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Từ trước đến nay, ông T sống vô tâm, không có trách nhiệm, không quan tâm gì đến gia đình, vợ con. Tất cả mọi việc lớn nhỏ cũng như kinh tế gia đình do một mình bà Đ gánh vác, bà không nhận được bất kỳ sự chia sẻ nào từ ông T. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn và vì con cái nên bà cố nhẫn nhịn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng bà ly thân từ năm 2020 cho đến nay, dù sống chung nhà nhưng vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Nay bà nhận thấy bà không còn tình cảm với ông T, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên bà Đ yêu cầu ly hôn với ông Trần Thành T.

Về con chung: Bà Đ khai nhận vợ chồng có hai con chung là Trần Thái H1, sinh ngày 13/3/1996 và Trần Đan A, sinh ngày 20/01/2003. Cả hai con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Đ khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà Đ khai nhận vợ chồng không có nợ chung.

Toà án nhân dân quận Tân Phú đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập đương sự cho ông Trần Thành T nhưng phía bị đơn không có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn: Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú nhận xét quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thụy Hạnh Đ và ông Trần Thành T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn 0038 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/10/1995 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Qua nội dung đơn xin ly hôn, các bản tự khai, biên bản hoà giải, nhận thấy tình trạng mâu thuẫn giữa bà Đ và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Đ và ông T ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Do đó căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thụy Hạnh Đ.

Về con chung, ông bà có hai con chung là Trần Thái H1, sinh ngày 13/3/1996 và Trần Đan A, sinh ngày 20/01/2003. Cả hai con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động. Do đó không xem xét.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, sau khi nghị án Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ trích lục Kết hôn số 153/2024/TLKH-BS ngày 21/02/2024 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì có cơ sở xác định bà Nguyễn Thụy Hạnh Đ và ông Trần Thành T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T với số kết hôn 0038 ngày 24/10/1995, quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà Đ yêu cầu ly hôn, ông T có nơi cư ngụ tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thụy Hạnh Đ: Bà Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 06/6/2024. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt ông Trần Thành T: Do ông T vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông T.

Tại phiên tòa, ông T không có mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thụy Hạnh Đ yêu cầu ly hôn với ông Trần Thành T:

Căn cứ lời khai của bà Đ thấy rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng từ nhiều vấn đề trong cuộc sống. Từ trước đến nay, ông T sống vô tâm, không có trách nhiệm, không quan tâm gì đến gia đình, vợ con. Tất cả mọi việc lớn nhỏ cũng như kinh tế gia đình do một mình bà Đ gánh vác, bà không nhận được bất kỳ sự chia sẻ nào từ ông T. Mâu thuẫn kéo dài từ năm 2010 mặc dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, dù sống chung nhà nhưng vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Hơn thế, bà Đ xác nhận hiện nay bà không còn tình cảm với ông T, bà mong muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Đ và ông T là có thật và đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ.

[3]. Về quan hệ con chung: Bà Đ khai nhận vợ chồng có hai con chung là Trần Thái H1, sinh ngày 13/3/1996 và Trần Đan A, sinh ngày 20/01/2003. Cả hai con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về quan hệ tài sản:

- Về tài sản chung: Bà Đ khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Bà Đ khai nhận vợ chồng không có nợ chung.

Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[5]. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà Đ chịu án phí theo qui định của pháp luật là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thụy Hạnh Đ:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thụy Hạnh Đ được ly hôn với ông Trần Thành T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 0038 ngày 24/10/1995 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thụy H Đan và ông Trần Thành T không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về quan hệ con chung: Bà Đ khai nhận vợ chồng có hai con chung là Trần Thái H1, sinh ngày 13/3/1996 và Trần Đan A, sinh ngày 20/01/2003. Cả hai con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về quan hệ tài sản:

+ Về tài sản chung: Bà Đ khai nhận vợ chồng không có tài sản chung.

+ Về nợ chung: Bà Đ khai nhận vợ chồng không có nợ chung.

2/ Về án phí:

Bà Nguyễn Thụy Hạnh Đ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà Đ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007685 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đ đã nộp đủ.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3/ Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự văng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Phú;
  • - UBND quận Tân Bình,
  • Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 708/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 708/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger