|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 707/2024/HS-PT Ngày: 22 - 08 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười
Bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 349/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4812/2024/QĐXXPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Lê Hoàng V, sinh năm 1995 tại huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Đạo Phật, giới tính: Nam, nghề nghiệp: Không, Trình độ học vấn: Lớp 1/12, có cha là Phan Nhật P, mẹ là Lê Thị Kim T, vợ: Phan Thị Kiều M và có một con; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giam từ ngày 12/3/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh A.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Hoàng V: Luật sư Phan Văn Đ, Đoàn luật sư tỉnh A.
(Trong vụ án còn có 02 bị cáo Phan Hoàng V1, Lê Thị Kim T, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo,
1
không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Các bị cáo Phan Hoàng V1 và Lê Hoàng V là hai anh em ruột, đều nghiện ma túy. V1 không có nghề nghiệp ổn định, nên thường sống lang thang, tụ tập với các đối tượng nghiện ma túy để có ma túy sử dụng.
Khoảng 23 giờ ngày 15/02/2023, V1 điều khiển xe mô tô biển số 68L1-209.89 (xe mô tô do V1 mua của một người đàn ông tại huyện V, thành phố Cần Thơ giá 1.500.000 đồng vào ngày 13/02/2023) từ hướng quận T, thành phố Cần Thơ về thành phố L, tỉnh An Giang, khi đến khu vực cầu C thì gặp Trần Hùng L đang ngồi trên cầu hỏi V1 đi nhờ về thành phố L, V1 đồng ý. Trên đường đi, L nói cho V1 biết L nghiện ma túy, nhà ở huyện T và kêu V1 chở về nhà của L sẽ cho V1 500.000 đồng, V1 bảo đi về nhà mẹ ruột là Lê Thị Kim T ở ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang để cất đồ xong sẽ chở L về huyện T. Sau đó, V1 chở L đến nhà bà T, để xe ngoài đường rồi đi vào nhà cất đồ, thì L lấy xe mô tô của V1 chạy về hướng phà A, V1 chạy bộ đuổi theo nhưng không kịp nên quay về nhà lấy xe mô tô biển số 65F5-1803 của ông Lê Văn X (ông ngoại của V1) và kêu V chở V1 rượt đuổi theo L. Khi đi, V1 lấy cây dao tự chế dài khoảng 50cm, mũi sắc nhọn của V tại giường ngủ của V, cùng V rượt đuổi theo L xuống phà A. Đến nơi, V đậu xe dưới bon phà, V1 xuống xe cầm dao bằng tay phải, cùng V đi lên phương tiện phà sắt số hiệu AG-151.84 của Xí nghiệp P1 đang neo đậu tại cầu phao ở bờ ấp A, xã H, huyện C đón khách, rồi cả hai đi lại chỗ L đậu xe. Lúc này, L đang ngồi trên lan can phà, phía bên phải gần mũi phà, gặp V1, L bước xuống nền phà, V1 hỏi L sao lấy xe của V1, đồng thời V1 cầm dao chém một nhát vào mạng sườn bên trái của L, rồi tiếp tục chém nhát thứ hai thì L đưa tay trái lên đỡ trúng vào cổ tay. Thấy L bị chảy nhiều máu, V1 kêu V lấy xe chạy về nhà. Khi về đến nhà, V1 cất giấu dao trên đầu tủ giường ngủ của V1 ở phía trước nhà, lấy quần áo để bỏ trốn và nói cho Lê Thị Kim T (mẹ ruột của V1, V) biết việc V1 vừa mới chém L, T la chửi V1. Sau đó, V chở V1 đến nhà Nguyễn Thị H, Phan Hoàng N (bà nội và chú ruột của V1, V) ở ấp N, xã N, huyện C để ngủ qua đêm và xin tiền, được H cho V1 500.000 đồng. Sáng ngày 16/02/2023, V1, V rời khỏi nhà bà H và bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 17/02/2023, T dọn dẹp nhà phát hiện cây dao tự chế trên đầu tủ nơi V1 ngủ, T biết đây là hung khí của V1, V sử dụng dùng để chém chết L, nên chiều tối khoảng 19 - 20 giờ cùng ngày, T đem cây dao đến cầu T, xã H, huyện C ném xuống sông để che giấu hành vi phạm tội của V1 và V.
* Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 10/KL-KTHS(PY-GT) ngày 17/02/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, đối với Trần Hùng L, sinh năm 1982,
2
kết luận:
- Các kết quả chính qua giám định: Vùng ngực trái, cách đường giữa ngực 5,5cm và cách dưới hõm nách trái 9cm có vết thương hở, hình khe, kích thước (18,5 x 7,5)cm; nằm xiên, hai góc nhọn, bờ mép gọn; lộ xương sườn. Mặt trước cổ tay trái có vết thương kích thước (7,5 x 4)cm, hình khe nằm ngang, hai góc nhọn, bờ mép gọn; lộ gân, xương; bầm tụ máu dưới da, cơ vùng ngực trái và mặt trước cổ tay trái; đứt thùy dưới phổi trái, đứt động mạch quay bên trái.
- Nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn cấp do vết thương vùng ngực trái gây đứt thùy dưới phổi trái và vết thương cổ tay trái gây đứt động mạch quay.
* Bản kết luận giám định số 09/KL-KTHS(SH-GT) ngày 31/3/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Vết màu nâu tại vị trí số 1, 3 là máu người, thuộc nhóm máu B. Vết màu nâu tại vị trí số 2 là máu người. Do chất lượng dấu vết kém không đủ điều kiện để giám định xác định nhóm máu. Máu nạn nhân Trần Hùng L, sinh ngày 28/6/1982 thuộc nhóm máu B.
Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp cho bị hại bà Lý Thị Thu V2, ông Trần Văn D trình bày: bị hại không có vợ con, ông bà yêu cầu bị cáo V1, V bồi thường tiền mai táng phí 10.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 30.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu khoản nào khác. Ông bà đã nhận 10.000.000 đồng do các bị cáo khắc phục, yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường tiền tổn thất tinh thần 30.000.000 đồng, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô 68L1 – 209.89; 01 xe mô tô 65F5 – 1803; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số A0117896 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an thành phố C cấp ngày 24/10/2001; 02 nón bảo hiểm màu tím; 03 điện thoại di động các loại; 01 đồng hồ kim loại màu vàng; 01 cây dao (loại dao Thái Lan) và nhiều vật dụng có liên quan.
Cáo trạng số 14/CT-VKSAG-P2 ngày 01/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Phan Hoàng V1 về tội “Giết người” theo điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, Lê Hoàng V về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, Lê Thị Kim T về tội “Che giấu tội phạm” theo điểm b khoản 1 Điều 389 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án số 12/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Lê Hoàng V phạm tội “Giết người”;
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng V 10
3
(mười) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 12/3/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo Phan Hoàng V1 và Lê Thị Kim T, về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 29/3/2024 bị cáo Lê Hoàng V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là quá nặng.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất tội danh mà án sơ thẩm đã xét xử. Tuy nhiên, đề nghị xem xét vai trò của bị cáo V, chỉ chở bị cáo V1 do kêu đi lấy xe chứ không biết đi đánh nhau với bị hại, không biết V1 đem theo dao; việc V1 chém bị hại không phải do ý muốn của V. Quá trình điều tra Việt thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú, xuất thân từ thành phần lao động nghèo, không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế, phạm tội lần đầu, khắc phục hậu quả cho bị hại. Nên đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ y bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hoàng V thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Do trước đó, bị hại Trần Hùng L có hành vi lấy xe mô tô của bị cáo Phan Hoàng V1 (anh ruột bị cáo), nên bị cáo V1 lấy xe mô tô biển số 65F5-1803 của ông Lê Văn X (ông ngoại) và kêu bị cáo chở rượt đuổi theo L. Lúc đi, V1 lấy cây dao tự chế tại giường ngủ của V. Khi đến bến phà A, thuộc ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, bị cáo V1 xuống xe đến gặp bị hại L hỏi sao lấy xe của V1, đồng thời dùng dao chém vào ngực, tay của L.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 10/KL-KTHS(PY-GT) ngày 17/02/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, đối với Trần Hùng L, sinh năm 1982,
4
kết luận: Nguyên nhân chết là suy tuần hoàn cấp do vết thương vùng ngực trái gây đứt thùy dưới phổi trái và vết thương cổ tay trái gây đứt động mạch quay.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 20224 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tuyên bố các bị cáo: Phan Hoàng V1, Lê Hoàng V về tội “Giết người” theo Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[2]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Hoàng V, thấy rằng:
Tội phạm bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng; Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của bị hại Trần Hùng L.
Tuy nhiên, trong vụ án này lỗi xuất phát từ việc bị hại công nhiên chiếm đoạt xe mô tô của gia đình bị cáo, không phải vô cớ mà bị cáo cùng tham gia giúp sức chở bị cáo V1 đuổi theo bị hại L. Hơn nửa, khi đến phà A, bị cáo không tham gia chém bị hại. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo V đồng phạm tội giết người với bị cáo V1 là đúng, nhưng xác định tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” ở điểm n khoản 1 Điều 123 là không đúng với tính chất, hành vi của bị cáo và quyết định hình phạt 10 năm tù đối với bị cáo V là nghiêm khắc.
Trong trường hợp này, bị cáo V chỉ phạm tội giết người ở khoản 2 Điều 123 của BLHS, có khung hình phạt từ 07 đến 15 năm; Thấy rằng, bị cáo chỉ có vai trò giúp sức, bị cáo là em ruột của bị cáo V1, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục một phần hậu quả, được đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, lượng hình lại theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ y án sơ thẩm là chưa phù hợp với nhận định trên.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí.
[5]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng V; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2024/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về hình phạt.
5
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng V phạm tội “Giết người”;
- Về hình phạt:
Áp dụng khoản 2 Điều 123, Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng V 07 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 12/3/2023.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu án phí.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
6
Bản án số 707/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 707/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
