|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 707/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mai Lan
Bà Nguyễn Thị Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G tham gia phiên tòa: Bà Đinh Hương Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 165/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc N; Địa chỉ: Số A đường B, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ cư trú: B, KDC Vĩnh Phú X, khu phố Long H, phường Vĩnh P, thành phố Thuận A, tỉnh bình Dương. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Huỳnh Anh C; Địa chỉ: Số A đường B, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 02 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Ngọc N trình bày:
Bà và ông Huỳnh Anh C tự nguyện đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân Phường H, quận Bình T cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 1998. Vợ chồng đã nhiều lần thẳng thắn trao đổi nói chuyện với nhau nhưng mối quan hệ ngày càng xa cách. Bà và ông C ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay bà không còn tình cảm với ông C, yêu cầu được ly hôn với ông C.
Về con chung: Bà và ông C có 03 con chung tên Huỳnh Lê Anh T, sinh năm 2000 đã trưởng thành; Huỳnh Lê Anh T, sinh năm 2003 đã trưởng thành và Huỳnh Lê Anh T, sinh ngày 16/5/2008. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng Anh T, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Toà án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham dự phiên toà đối với bị đơn là ông Huỳnh Anh C nhưng ông C vắng mặt, không có lý do.
Do ông C vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn bà N vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn ông C vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Toà kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tô tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà N yêu cầu được ly hôn với ông C.
Về con chung: 02 con chung tên Huỳnh Lê Anh T, sinh năm 2000 đã trưởng thành; Huỳnh Lê Anh T, sinh năm 2003 đã trưởng thành. Riêng Huỳnh Lê Anh T, sinh ngày 16/5/2008, bà N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Bà N không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà N nộp đơn khởi kiện về việc ly hôn với ông C, ông C có địa chỉ cư trú tại quận G nên đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận G theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2
Tòa án nhân dân quận G tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với ông C theo đúng quy định tại Điều 175 và Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông C đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà N vắng mặt, có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu các đương sự:
[2.1] Căn cứ Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi vấn đề đương sự có yêu cầu, những vấn đề liên quan đến vụ án đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.
Theo Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn ông C không đến tòa án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Bà N cung cấp và do Tòa án thu thập được để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2.2] Bà N yêu cầu được ly hôn với ông C, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà N và ông C chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58 quyển số 01 ngày 11/7/1998 do Ủy ban nhân dân Phường H, quận Bình T cấp nên hôn nhân của bà N và ông C là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ trình bày của bà N vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nhiều lần vợ chồng thẳng thắn trao đổi nói chuyện với nhau nhưng mối quan hệ ngày càng xa cách. Bà và ông C ly thân từ năm 2020 đến nay. Ông C mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt, không trình bày ý kiến, không thể hiện gì về việc níu kéo hạnh phúc gia đình. Từ đó cho thấy bà N và ông C không có sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không tạo điều kiện cho nhau phát triển, hôn nhân bà N và ông C lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà N yêu cầu ly hôn với ông C là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Giấy chứng nhận kết hôn số 58 quyển số 01 ngày 11/7/1998 do Ủy ban nhân dân Phường H, quận Bình T cấp không còn giá trị pháp lý.
[2.3] Về con chung: Bà N và ông C có 03 con chung tên Huỳnh Lê Anh T, sinh năm 2000 đã trưởng thành; Huỳnh Lê Anh T, sinh năm 2003 đã trưởng thành và Huỳnh Lê Anh T, sinh ngày 16/5/2008.
Bà N yêu cầu được nuôi dưỡng Huỳnh Lê Anh T, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy,
Bà N đang là người trực tiếp chăm sóc con chung Huỳnh Lê Anh T và con chung có nguyện vọng được sống với mẹ nên bà N yêu cầu được nuôi dưỡng con
3
chung có cở sở để chấp nhận theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của bà N nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
[2.4] Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí:
Bà N chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0057275 ngày 11/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận G. Bà N đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 5, Điều 91, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 175, Điều 177, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Luật phí và lệ phí năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Luật Thi hành án dân sự;
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ngọc N được ly hôn với ông Huỳnh Anh C.
Giấy chứng nhận kết hôn số 58 quyển số 01 ngày 11/7/1998 do Ủy ban nhân dân Phường H, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Bà Lê Ngọc N và ông Huỳnh Anh C có 03 con chung tên Huỳnh Lê Anh T, sinh năm 2000 đã trưởng thành; Huỳnh Lê Anh T, sinh năm 2003 đã trưởng thành và Huỳnh Lê Anh T, sinh ngày 16/5/2008.
Bà Lê Ngọc N trực tiếp nuôi dưỡng Huỳnh Lê Anh T, sinh ngày 16/5/2008.
Ông Huỳnh Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.
4
Ông Huỳnh Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Lê Ngọc N chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0057275 ngày 11/02/2025 tại Chi cục Thi hành án đân sự quận G. Bà Lê Ngọc N đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Cúc |
5
6
Bản án số 707/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 707/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
