TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 706/2022/DS-PT Ngày 29 – 9 – 2022 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi giá trị quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hồng
Bà Trần Thị Hòa Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Đỗ Phước Trung – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 và 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 227/2022/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi giá trị quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST ngày 24/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1910/2022/QĐ-PT ngày 12/9/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh Th, sinh năm 1965; (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Ph, sinh năm 1968;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang. (có đơn xin vắng mặt)
- Bà Lê Mộng K, sinh năm 1965;
- Bà Phạm Thị Thanh V, sinh năm 1952;
- Bà Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1953;
- Ông Phạm Công M, sinh năm 1958;
- Bà Phạm Thị Thanh Nh, sinh năm 1960;
- Bà Phạm Thị Thanh Th1, sinh năm 1962;
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Minh Ph là bị đơn.
Địa chỉ: Số 46x, tổ 7, đường T, Quốc lộ 91, khóm Tr, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số 19x, tổ 7, đường T, Quốc lộ 91, khóm Tr, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của ông Ph: Ông Đặng Văn K, sinh năm 1978; Địa chỉ liên hệ: Số 29, đường số 1, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang là đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/3/2022, có mặt).
Địa chỉ: Số 19x, đường T, Quốc lộ 91, tổ 7, khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Mộng K: Ông Đặng Văn K, sinh năm 1978; Địa chỉ liên hệ: số 29, đường số 1, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang là đại diện theo ủy quyền (Theo giấy ủy quyền ngày 08/02/2022, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà K: Ông Nguyễn Ngọc Ch là Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Trần thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang (có mặt).
Địa chỉ: Số 26, ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh An Giang. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 46x, tổ 7, khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư G, tổ 3, khóm 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 47x, tổ 7, khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 11Yx, đường C, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh Th trình bày:
Đất đang tranh chấp có nguồn gốc của cha của bà là ông Phạm Văn C (chết năm 2013) quản lý sử dụng từ khoảng năm 1952 không có giấy tờ về đất, ba của bà cho chị của bà là Phạm Thị Thanh V cất nhà ở khoảng năm 1984 – 1985. Đến khoảng năm 2000, bà V bán nhà cho ông Ph. Do bà V chưa có giấy tờ về đất, nên ông C cùng ký tên trong giấy mua bán với ông Ph để xác định bà V bán nhà, ông C đồng ý bán đất cho ông Ph, diện tích đất bán, bà không xác định được, nhưng chiều ngang đất bằng chiều ngang căn nhà là 5,2m, chiều dài căn nhà 12m. Trước nhà có sân, đất sân bán cho ông Ph cùng với căn nhà.
Thời gian trước năm 1998, bà Th có chồng về Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó ly hôn chồng, nên bà ở tạm nhà của bà V. Đến khi bà V bán nhà, bà Th không có chỗ ở, nên bà cất nhà trên phần đất trống phía sau nhà bà V, nhà gỗ, lợp tôn có diện tích khoảng 28m² (khi tranh chấp đo đạc chính xác nhà có diện tích 26,1m²). Thời điểm bà cất nhà cũng là thời điểm ông Ph nhận nhà của bà V và sửa chữa lại nhà, ông Ph hoàn toàn không có ý kiến gì về việc bà Th cất nhà.
Đến khoảng năm 2005, bà Th đăng ký cấp quyền sử dụng đất thì mới biết ông Ph đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất (sau đây viết tắt GCNQSDĐ) bà Th cất nhà. Từ đó, bà Th khiếu nại đến Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt UBND) thị trấn N. Tại UBND thị trấn N hòa giải năm 2006, ông Ph đồng ý cắt trả diện tích đất có nhà của bà Th, nhưng ông yêu cầu bà Th phải trả tiền thuế hợp thực hóa quyền sử dụng đất và thuế đất hàng năm, cộng chung là 2.000.000đ, bà Th không đồng ý, nên hòa giải không thành, tranh chấp kéo dài đến nay.
Trong nhà có con của bà Th tên Nguyễn Hữu H, sinh năm 1996 cùng với bà Th đăng ký hộ khẩu thường trú tại căn nhà này.
Nay, bà Th yêu cầu:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ QSDĐ/00281Ka, ngày 24/5/2004, diện tích 169,40m², Thửa số 68, Tờ bản đồ số 024 tại thị trấn N, huyện T do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K.
- Công nhận cho bà Th được quyền sử dụng diện tích đất 26,1m² theo các điểm 15, 4, 5, 11, 10, 9, 8, 3, 2, 1, 14 và 15 trong Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 08/4/2021 của Văn phòng Đăng ký đất đai - Chi nhánh Tịnh Biên.
- Đối với yêu cầu phản tố của ông Ph, bà K đòi bà trả giá trị quyền sử dụng đất là 26.100.000đ, bà không đồng ý vì đất này không phải của ông Ph, bà K. Đất bà cất nhà nằm phía sau và không liên quan đến đất bà V và ông C bán cho ông Ph.
Bị đơn ông Nguyễn Minh Ph và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Mộng K cùng trình bày:
Ông, bà là vợ chồng, năm 2000, ông, bà có mua nhà và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị Thanh V diện tích 115,44m² đất thổ cư tại khóm Trà Sư, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Trên đất có căn nhà cấp 4, chiều ngang 5,2m, chiều dài 22,2m (được đo bằng thước dây) với giá 17,7 lượng vàng 24k. Việc mua bán có lập Hợp đồng mua bán vào ngày 01/11/2000, bên bán là bà Phạm Thị Thanh V và ông Phạm Văn C; bên mua là ông Nguyễn Minh Ph cùng ký vào Hợp đồng. Tại thời điểm này, phía sau căn nhà là khoảng đất trống, gia đình ông Ph sử dụng làm sàn nước và chổ phơi đồ. Năm 2004, theo yêu cầu của ông Ph, bà K, nên bà V thực hiện việc sang nhượng nhà đất cho ông bà. Đến ngày 24/5/2004, ông bà được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số vào sổ QSDĐ/02281Ka. Từ khi thực hiện việc mua bán nhà đất, chỉ có bà V và ông C, không có bà Th tham gia và cũng không nghe nhắc đến bà Th. Hiện tại, căn nhà mua của bà V không còn vì năm 2010, nhà bị xuống cấp, nên ông bà dỡ nhà để cất lại căn nhà hiện nay bằng diện tích căn nhà cũ, không nới rộng, không thu hẹp diện tích.
Việc bà Th trình bày cất nhà năm 2000 là không đúng mà bà Th cất nhà năm 2006, bà Th từ Thành phố Hồ Chí Minh về đăng ký quyền sử dụng diện tích đất trống nằm trong GCNQSDĐ của ông, bà để cất nhà, nhưng không được UBND thị trấn N chấp thuận vì bà Th không xác định được vị trí, diện tích, ranh đất và không có giấy tờ chứng minh là đất của bà. Tuy không được chấp nhận việc đăng ký quyền sử dụng đất, nhưng bà Th vẫn tự ý vừng vách thiết, che mái tôn để ở. Ông, bà đã trình báo với chính quyền về việc bà Th tự ý chiếm đất, cán bộ của UBND thị trấn đến nhắc nhở, nhưng khi người của UBND thị trấn về thì bà Th vẫn hoàn thành việc cất nhà. Đơn kiện bà Th chỉ có 1 bản nộp cho UBND thị trấn N, nên không còn bản lưu, Biên bản làm việc tại thị trấn N ông, bà không được sao chụp, nên không có những tài liệu này cung cấp cho Tòa án.
Hiện tại chỉ có bà Th ở trong nhà này.
Việc ông, bà thỏa thuận mua bán nhà đất với bà V và ông C có sự chứng kiến của các hộ liền kề: bên trái là Phạm Thị Thanh Nh, bên phải là Phạm Thị Thanh T và đã thực hiện chuyển nhượng sang tên từ năm 2000 đến năm 2004, ông C, bà V không nói gì đến việc sở hữu của bà Th, bà Th cũng không khiếu nại hoặc tranh chấp gì, nên ông bà không phải chịu trách nhiệm gì đối với bà Th.
Sau này, bà Th khởi kiện tranh chấp là vô lý, không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu về tài sản. Nếu bà Th có tranh chấp thì tranh chấp và khởi kiện đối với bà Phạm Thị Thanh V.
Nguyên nhân ông bà nhận chuyển nhượng diện tích đất 115,44m² nhưng được UBND huyện cấp GCNQSDĐ diện tích 169,4m² (thừa 53,96m²) là vì năm 2004, khi ông, bà đăng ký cấp quyền sử dụng đất thì ông C đưa nguyên Bằng khoáng chế độ cũ để ông bà đi đăng ký, đóng thuế trước bạ sang tên. Khi đăng ký quyền sử dụng đất, ông, bà không nộp Hợp đồng mua bán vào ngày 01/11/2000 với bà V mà chỉ nộp Bằng khoáng của chế độ cũ do ông C đưa có nêu diện tích đất của ông C, cơ quan cấp giấy lập thủ tục cho ông bà được sử dụng trọn thửa đất trong Bằng khoáng của chế độ cũ đã cấp cho ông C, mà không tiến hành đo đạc lại.
Chính vì vậy, GCNQSDĐ diện tích 169,4m² có luôn phần diện tích đất trống phía sau nhà. Ông C không ký tên bán hết phần đất theo Bằng khoán cũ cho ông, bà mà chỉ có bà V ký tên xác nhận đã bán hết diện tích đất theo Bằng khoáng cũ để ông bà được cấp Giấy với diện tích 169,4m². Hàng năm, ông bà thực hiện đóng thuế đầy đủ đối với diện tích đất này.
Ông, bà không đồng ý việc bà Th yêu cầu ông bà trả đất và yêu cầu hủy GCNQSDĐ do UBND huyện T cấp cho ông, bà vì bà Th không có giấy tờ gì đối với diện tích đất này. Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay ông, bà đang giữ.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, ông Ph yêu cầu bà Th dỡ nhà trả đất (Bút lục 47).
Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 20/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện T (Bút lục 70), ông Ph, bà K xác nhận không có yêu cầu gì đối với bà Th, chỉ yêu cầu Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà Th.
Đơn phản tố ngày 30/8/2021 (Bút lục 114), ông Ph, bà K yêu cầu bà Th và bà Tú A ở trên đất của ông, bà thì phải có giấy tờ đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Đơn phản tố ngày 29/9/2021 (Bút lục 121), ông Ph, bà K yêu cầu bà Th dỡ nhà trả đất.
Đơn phản tố ngày 19/10/2021 (Bút lục 126-127), ông Ph, bà K rút lại yêu cầu bà Th dỡ nhà trả đất, chỉ yêu cầu bà Th trả giá trị bằng tiền với giá 1.000.000đ/m², với số tiền là 26.100.000đ (hai mươi sáu triệu một trăm ngàn đồng).
Đơn trình bày bổ sung ngày 15/01/2022 (dấu Bưu điện ngày 19/01/2022, Bút lục 130-131), ông Ph, bà K yêu cầu: bà V phải trả lại diện tích 0,29m² do chiều ngang đất khi cấp GCNQSDĐ bị thiếu so với giấy tờ mua bán.
Tại phiên tòa ngày 24/02/2022, ông Ph rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố, bà K rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện T trình bày tại Công văn số 5845/UBND-NC, ngày 23/9/2021, như sau:
Căn cứ Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 08/4/2021 của Văn phòng Đăng ký đất đai - Chi nhánh Tịnh Biên thì diện tích 26,1m² đất được xác định tại Thửa 68, Tờ bản đồ số 24 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02281QSDĐ/Ka, ngày 24/5/2004 do ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K đứng tên. Hồ sơ, tài liệu liên quan việc cấp GCNQSDĐ do Văn phòng Đăng ký Đất đai - Chi nhánh Tịnh Biên lưu trữ hiện nay gồm:
- Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K được Ủy ban nhân dân thị trấn N ký xác nhận ngày 19/4/2004;
- Hồ sơ kỹ thuật khu đất do Phòng Xây dựng và Phát triển nông thôn huyện T ký ngày 24/5/2004;
- Biên bản xác định ranh giới – Mốc giới khu đất, được các chủ sử dụng liền kề ký và Ủy ban nhân dân thị trấn N ký xác nhận ngày 06/7/2000;
- Hồ sơ xét cấp GCNQSDĐ gồm: Tờ trình (V/v cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) ngày 19/4/2004; Biên bản xét duyệt ngày 03/4/2004 của Hội đồng Đăng ký đất thị trấn N; Thông báo về việc công khai hồ sơ đăng ký đất ngày 05/4/2004 của UBND thị trấn N; Biên bản kết thúc công khai xét duyệt ngày 19/4/2004 của UBND thị trấn N; Danh sách các chủ sử dụng đủ điều kiện cấp giấy.
- Danh sách các tổ chức và cá nhân được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 146/DS.UB do UBND huyện T phê duyệt ngày 24/5/2004.
Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K thực hiện theo hình thức cấp giấy đất ở tập trung đúng với trình tự, thủ tục được quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận. Do đó, trong quá trình xét xử có vấn đề phát sinh, đề nghị Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết.
Các ông Lê Thanh Phương, Nguyễn Công Sơn là người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện T xin vắng mặt suốt quá trình tố tụng và bảo lưu ý kiến được nêu tại Công văn số: 5845/UBND-NC, ngày 23/9/2021 của UBND huyện T.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thanh V trình bày:
Bà là con của ông C, chị của bà Th, bà trực tiếp bán nhà cho bà ông Ph.
Bà có căn nhà cấp 4 trên diện tích đất của ông C cho bà cất, đất chưa có giấy tờ. Năm 2000, bà bán nhà cho ông Ph, nhà nằm trên đường Quốc lộ 91, khóm T, thị trấn N, huyện T. Từ Quốc lộ 91 nhìn vào thì có sân trước, tại thời điểm bán nhà thì trên sân có mái che, nhưng không tính vào diện tích căn nhà. Tiếp đến là căn nhà chính. Phía sau căn nhà chính là có đường mương nước khoảng 7-8 tất. Kế đường mương nước là đất trống. Thời gian lâu quá bà không nhớ chính xác diện tích nhà đất là bao nhiêu, nhưng khi bán nhà có làm giấy giao cho ông Ph giữ, trong Giấy có nêu diện tích nhà đất bán. Bà xác định bán nhà, đất cho ông Ph từ đường Quốc lộ 91 trở vô đến hết căn nhà. Đường mương nước phía sau, ông Ph có xin bà cho sử dụng.
Phần đất trống phía sau mương nước, bà xác định không bán cho ông Ph và cũng không ký giấy bán diện tích đất 169m² cho ông Ph.
Trước đây bà Th ở nhờ trong nhà của bà, khi bà bán nhà thì bà Th không có chỗ ở mới, nên ba của bà là ông C cho bà Th cất nhà trên phần đất trống phía sau nhà của bà từ năm 2000 đến nay.
Ba của bà đã chết năm 2013, bà không tranh chấp thừa kế đối với diện tích đất bà Th cất nhà. Yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất đang tranhh chấp cho bà Th.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà Phạm Thị Thanh T, Phạm Công M, Phạm Thị Thanh Nh, Phạm Thị Thanh Th1 có văn bản trình bày:
Các ông, bà là con của ông Phạm Văn C, Ông C cư ngụ trên mảnh đất này trên 50 năm. Ông cho mỗi người con một miếng đất để cất nhà ở. Năm 2000, bà V bán nhà cho ông Ph. Vì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên ông C cùng với bà V đứng ra làm giấy cho ông Ph trong chu vi căn nhà bà V đang sử dụng.
Bà Th từ năm 1998, từ Sài Gòn về tá túc trong nhà bà V, nên khi bà V bán nhà, bà Th không có chỗ ở. Từ đó, ba của các ông, bà mới cho bà Th miếng đất phía sau nhà bà V để bà Th cất nhà cũng trong năm 2000. Khi ông Ph nhận và sửa chữa lại căn nhà thì bà Th cũng cất căn nhà phía sau, không liên quan đến căn nhà ông Ph mua, nên ông Ph không có ý kiến gì.
Khoảng năm 2015, khi biết có đợt làm giấy đại trà cho người dân, bà Th đăng ký quyền sử dụng đất thì mới biết đất bà Th cất nhà đã nằm trong GCNQSDĐ của ông Ph, nên phát sinh tranh chấp. Hòa giải tại UBND thị trấn N, ông Ph thừa nhận đất này là của bà Th. Do đó, việc bà Th yêu cầu hủy GCNQSDĐ của ông Ph là hợp lý.
Đối với yêu cầu của ông Ph, bà K đòi bà Th trả tiền sử dụng đất 1.000.000đ/m² là yêu cầu không hợp lý, đề nghị Tòa án không chấp nhận.
Yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất thổ cư 28m² tại khóm T, thị trấn N, huyện T cho bà Th.
Các ông, bà xin vắng mặt suốt quá trình tố tụng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST ngày 24/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã căn cứ: Khoản 4, Điều 34, điểm a, khoản 1, Điều 37; khoản 2 Điều 244, khoản 1, Điều 266 và khoản 1, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4, Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; + Điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai 2013; Khoản 3, Điều 18 Khoản 2, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Minh Ph và yêu cầu độc lập của bà Lê Mộng K;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh Th:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ QSDĐ/00281Ka, ngày 24/5/2004, diện tích 169,40m², Thửa số 68, Tờ bản đồ số 024 tại thị trấn N, huyện T do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K;
- Công nhận và giao cho bà Phạm Thị Thanh Th được quyền sử dụng diện tích đất 26,1m² theo các điểm 15,4,5,11,10,9,8,3,2,1,14 và 15 trong Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 08/4/2021 của Văn phòng Đăng ký đất đai – Chi nhánh Tịnh Biên. Đất tại tổ 7, Quốc lộ 91, khóm Trà Sư, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
- Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 08/4/2021 của Văn phòng Đăng ký Đất đai - Chi nhánh Tịnh Biên đo vẽ là một phần của Bản án này;
- Bà Phạm Thị Thanh Th, ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K có trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
- Về chi phí tố tụng:
- Bà Phạm Thị ThanhTh không phải chịu chi phí tố tụng;
- Ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K phải chịu chi phí tố tụng là 1.795.000đ. Do bà Th đã nộp tạm ứng chi phí này, nên ông Ph, bà K phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Th 1.795.000đ (một triệu bảy trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Phạm Thị Thanh Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số TU/2019/0005826, ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T;
- Ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ 653.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000019, ngày 29/10/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Sau khi khấu trừ, ông bà được nhận lại 353.000 đồng (ba trăm năm mươi ba ngàn).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Minh Ph kháng cáo với lý do bản án sơ thẩm xét xử không thỏa đáng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Đề nghị phúc xử theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị dơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sửa bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cấp sơ thẩm đã đưa thiếu người tham gia tố tụng vì trên đất này còn có hộ Nguyễn Thị M, hộ Dương Tú A, Phan Văn P nhưng không đưa vào tham gia tố tụng nên nếu không chấp nhận kháng cáo thì hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguồn gốc đất chỉ có lời khai của nguyên đơn mà cấp sơ thẩm lại căn cứ vào đó để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đủ cơ sở, không đối chất, hòa giải để làm rõ. Về diện tích đất tranh chấp chỉ có chỉ dẫn nguyên đơn mà không có sự chỉ dẫn của bị đơn và những hộ giáp ranh, đất này không có lối đi nhưng lại công nhận có nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm do thiếu sót trong thu thập chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến cho rằng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung yêu cầu kháng cáo thấy rằng, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04 tháng 3 năm 2022 ông Nguyễn Minh Ph làm Đơn kháng cáo đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 70, Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 276 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn thì vụ án có quan hệ tranh chấp: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi giá trị quyền sử dụng đất”.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và giải quyết đúng thẩm quyền được pháp luật quy định tại khoản 9 Điều 26; khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính.
[3] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận định:
[3.1] Về nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của ông Phạm Văn C (cha của bà Th), ông C cho con là bà Phạm Thị Thanh V cất nhà trên một phần đất của ông. Đến năm 2000, bà V bán nhà cho ông Ph thể hiện qua Hợp đồng mua bán nhà ngày 01/11/2000 (không được công chứng hoặc chứng thực), có nội dung: ông C và bà V bán cho ông Ph căn nhà cột gỗ, khung tường, mái tôn, chiều dài 14m, chiều ngang 5,2m, diện tích 72,80m² tại số 192/7, khóm T, thị trấn N, huyện T. Ông Ph được hưởng quyền lợi cất trên nền đất có diện tích ngang 5,2m; dài 22,2m = 115,44m². Phía trái giáp với bà Phạm Thị Thanh Nh, phía phải và phía sau giáp với bà Phạm Thị Thanh T, phía trước giáp với Quốc lộ 91, với giá là 17,5 lượng vàng 24k.
Năm 2004, ông Ph và bà K đăng ký kê khai xin cấp quyền sử dụng đất. Ngày 24/5/2004, ông Ph, bà K được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ QSDĐ/00281Ka, diện tích 169,40m², Thửa số 68, Tờ bản đồ Số 024 tại thị trấn N, huyện T.
Năm 2005, ông C kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, đến 07/3/2006 được UBND huyện T cấp GCQSDĐ số H0466Ka, thửa đất 67, diện tích 50,6m² (Thửa đất tiếp giáp cạnh phải với đất của ông Ph, bà K); ngày 10/01/2005, ông C ký giấy tay (không công chứng, chứng thực, không theo mẫu) cho bà Th diện tích đất phía sau có chiều ngang 2,5m, chiều dài 15m. Cũng trong năm 2005, bà Th được cấp Sổ hộ khẩu thường trú địa chỉ tổ 7, khóm T, thị trấn N huyện T.
[3.2] Năm 2006, bà Th tranh chấp đất với ông Ph tại Ủy ban nhân dân thị trấn N. Tại Biên bản hòa giải ngày 11/01/2006, ông Ph đồng ý cắt trả diện tích đất thừa cho bà Th với điều kiện bà Th trả lại chi phí đăng ký quyền sử dụng đất và tiền thuế hàng năm, tổng số tiền ông yêu cầu bà Th trả là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), bà Th chỉ đồng ý trả tiền ông Ph đóng thuế đất hàng năm nên phiên hòa giải không thành. Ngày 20/9/2020, bà Th khởi kiện ra Tòa án yêu cầu công nhận phần đất đang tranh chấp.
[3.3] Căn cứ Hợp đồng mua bán nhà ngày 01/11/2000 và Hồ sơ kỹ thuật khu đất của ông Ph ngày 24/5/2004 thì nhận thấy diện tích đất trong Hợp đồng mua bán có chiều ngang 5,2m, chiều dài 22,2m = 115,44m² có hình thể là hình tứ giác, nhưng trong Hồ sơ kỹ thuật khu đất ngày 24/5/2004 của Phòng Xây dựng và Phát triển nông thôn Tịnh Biên đối với thửa đất của ông Ph thì thể hiện khu đất có hình chữ “L”, có diện tích chung 169,40m². So với Hợp đồng mua bán thì diện tích được cấp GCNQSDĐ thừa 53,9m² trong đó cạnh dài nhất thừa 4,36m. Nếu chồng ghép Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 08/6/2021 (Bút lục 48) và Hồ sơ kỹ thuật khu đất ngày 24/5/2004 thì khu đất có căn nhà hiện hữu của bà Th, cạnh tiếp giáp với Thửa 69 và Thửa 59 có chiều dài 1,92m, nếu khấu trừ chiều dài 1,92m thì đất của ông Ph, bà K chiều dài còn 24,64m vẫn thừa 2,44m so với Hợp đồng mua bán nhà ngày 01/11/2000.
[3.4] Về thủ tục cấp GCNQSDĐ của ông Ph, bà K Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong hồ sơ không có Hợp đồng mua bán nhà ngày 01/11/2000, không có giấy tờ của chế độ cũ đối với Thửa đất này, không có giấy đồng ý chuyển nhượng hết thửa đất có diện tích 169m² của bà V như ông Ph, bà K trình bày. Việc đăng ký cấp GCNQSDĐ của ông Ph và bà K là do ông bà tự kê khai và hướng dẫn đo đạc vượt quá diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông C, bà V theo Hợp đồng mua bán nhà ngày 01/11/2000. Các biên bản xác định ranh giới, mốc giới trong hồ sơ cấp giấy cho ông Ph, bà K cùng ngày 06/7/2000 nhưng Hợp đồng mua bán nhà giữa bà V, ông C, ông Ph thể hiện ngày 01/11/2000 trong khi các tài liệu khác trong hồ sơ cấp GCNQSDĐ đều thể hiện năm 2004.
Như vậy, có cơ sở xác định việc UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho ông Ph và bà K là không đúng về diện tích đất, về trình tự thủ tục theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, nên yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ.
[3.5] Ngoài ra, thực tế phần đất đang tranh chấp bà Th đã sử dụng, cất nhà từ năm 2000 và các thừa kế của ông C không có tranh chấp và đều yêu cầu công nhận phần đất này cho bà Th. Do đó, có cơ sở để công nhận quyền sử dụng đối với phần diện tích 26,1m² cho bà Phạm Thị Thanh Th.
[4] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì đặc biệt mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh Ph, nên ông Ph phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh Ph.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST ngày 24/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Căn cứ Khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; Điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai 2013; Khoản 3 Điều 18, Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh Th:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ QSDĐ/00281Ka, ngày 24/5/2004, diện tích 169,40m², Thửa số 68, Tờ bản đồ số 024 tại thị trấn N, huyện T do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K;
- Công nhận và giao cho bà Phạm Thị Thanh Th được quyền sử dụng diện tích đất 26,1m² theo các điểm 15, 4, 5, 11, 10, 9, 8, 3, 2, 1, 14 và 15 trong Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 08/4/2021 của Văn phòng Đăng ký đất đai – Chi nhánh Tịnh Biên. Đất tại tổ 7, Quốc lộ 91, khóm Trà Sư, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
- Bà Phạm Thị Thanh Th, ông Nguyễn Minh Ph và bà Lê Mộng K có trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Minh Ph phải chịu 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí ông Ph đã nộp (ông Đặng Văn K nộp thay) theo biên lai thu số 0000068 ngày 04/3/2022 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, ông Ph đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hồ Tâm Tú |
Bản án số 706/2022/DS-PT ngày 29/09/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi giá trị quyền sử dụng đất
- Số bản án: 706/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi giá trị quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
