|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 705/2025/HS-PT Ngày: 17-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam
Các Thẩm phán: 1/ Bà Lê Thị Thương Huyền
2/ Ông Phạm Viết Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Đăng Khương- Kiểm sát viên.
Ngày 17/11/2025, tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 528/2025/TLPT-HS, ngày 06/10/2025 đối với bị cáo Trịnh Quang P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2025/HSST, ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân khu vực A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo:
Trịnh Quang P, sinh năm 1997 tại B; Thường trú: xã P, huyện Đ, tỉnh N (nay là xã V, tỉnh N); Tạm trú: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Di L và bà Phạm Công M; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền sự: Không;
Tiền án:
- Ngày 21/9/2017, bị Tòa án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án 210/2017/HSST), chấp hành án xong ngày 11/10/2018, đã đóng án phí và tiền thu lợi bất chính nhưng chưa thi hành phần lãi suất chậm thi hành án.
- Ngày 23/9/2019, bị Toà án nhân dân tỉnh C xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án 151/2019/HSPT), chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2021, đã đóng án phí.
- Ngày 03/03/2023, bị Toà án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án 38/2023/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2024, đã đóng án phí.
Bị cáo bị bắt giam từ ngày 03/4/2025 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 27/03/2025, do cần tiền tiêu xài Trịnh Quang P điều khiển xe mô tô H màu trắng biển số xxM2-xx.7xx đi trên đường G để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Khi đến tiệm sửa xe số 89 đường G, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, P phát hiện chị Lê Thị Cẩm N sinh năm 1987 đang nằm ngủ cùng con gái Nguyễn Lê Phương N1 sinh năm 2007 nên P dựng xe phía trước tiệm và đi bộ vào bên trong tìm phát hiện 02 điện thoại di động của anh Nguyễn Ngọc T sinh năm 1984 (chồng chị N) để trên kệ phía trong nhà. P lấy 02 điện thoại di động bỏ vào túi quần phía trước bên trái và lấy xe tẩu thoát. Đến sáng ngày 28/3/2025, P mang 01 điện thoại O màu xanh đi mở khóa mật khẩu tại cửa hàng điện thoại di động của Vũ Hoàng D, địa chỉ phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường F, Thành phố Hồ Chí Minh) rồi mang đến bán tại tiệm điện thoại di động N, O, Z, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) cho Lê Công H với giá 2.200.000 đồng. Còn điện thoại hiệu T vô tình mở được mật khẩu nên đã gắn sim vào sử dụng. Lúc 12 giờ 15 phút ngày 28/3/2025, P điều khiển xe lưu thông đến trước nhà 334 khu phố X, phường T, Thành phố O, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) thì bị Tổ tuần tra của Công an phường T phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, đưa về lập hồ sơ xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Quang P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết luận định giá tài sản số 118-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 31/3/2025 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động hiệu O màu xanh, trị giá 2.450.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu T màu đen trị giá 3.100.000 đồng. Tổng cộng là 5.550.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2025/HSST ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Trịnh Quang P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2025.
Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/9/2025, bị cáo Trịnh Quang P kháng cáo với nội dung xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trịnh Quang P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung, phân tích tính chất vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét vào ngày 27/3/2025, bị cáo Trịnh Quang P đã có hành vi lén lút lấy trộm 02 chiếc điện thoại di động của anh Nguyễn Ngọc T, trị giá 5.550.000 đồng. Đồng thời, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 2 xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai.
- Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: đơn kháng cáo của bị cáo nằm trong thời hạn luật định là hợp lệ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ và xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Đồng thời, trước và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- Các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Trịnh Quang P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2025.
- Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoài Nam |
Bản án số 705/2025/HS-PT ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 705/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
