TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 705/2024/HC-PT
Ngày 10 - 7 - 2024
V/v Khiếu kiện hành vi hành chính về
việc không cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | bà Huỳnh Thanh Duyên |
| Các Thẩm phán: | ông Nguyễn Văn Tửu |
| ông Hà Huy Cầu |
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.
Vào ngày 24 tháng 6 và ngày 10 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 268/2024/TLPT-HC ngày 14 tháng 3 năm 2024.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 82/2023/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1834/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
- Ông Phạm Văn N, sinh năm 1955; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1956; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: B, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm1967; (có mặt)
Địa chỉ: Số F, Tổ B, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo Giấy uỷ quyền ngày 20/4/2021);
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố B
Địa chỉ: Số B, đường V, Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo uỷ quyền:
- Ông Huỳnh Tấn L – Phó Chủ tịch UBND thành phố B (Theo Văn bản uỷ quyền số 7604/UBND-TCD ngày 11/6/2021); (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Duy T1 – Phó Chủ tịch UBND thành phố B (Theo Văn bản uỷ quyền số 14930/UBND-TCD ngày 26/9/2021); (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Võ Phương T2 – Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường thành phố B (Theo Văn bản số 7603/UBND-TCD ngày 11/6/2021); (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số B, đường V, Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, các bản tự khai của đại diện theo ủy quyền ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R trình bày:
Ngày 13 tháng 11 năm 2018, ông Phạm Văn N, sinh năm 1955; vợ Nguyễn Thị R, sinh năm 1956, có nộp đơn đăng ký để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16, diện tích 137,1m², tọa lạc tại số B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Về nguồn gốc đất: Đất do ông Phạm Văn C và bà Lê Thị B nhận chuyển nhượng của bà Trương Thị G theo tờ bán đứt và trọn sở được tỉnh trưởng B1 xác nhận ngày 24 tháng 4 năm 1959. Năm 1997, ông bà tặng cho con là ông Phạm Văn N và vợ là bà Nguyễn Thị R; đến ngày 28 tháng 7 năm 1998, ông N bà R xây dựng nhà.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018, Ủy ban nhân dân phường T có danh sách số 433/UBND về việc công khai trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
Tên chủ sử dụng đất, địa chỉ: ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R, thời hạn 15 ngày, kể từ ngày 21/11/2018 đến ngày 05/12/2018, nếu sau thời gian niệm yết công khai không ai tranh chấp, khiếu nại, Ủy ban nhân dân phường giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R theo quy định của pháp luật;
Hết thời gian niêm yết công khai không tranh chấp, khiếu nại, Ủy ban nhân dân phường giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác đất cho ông Phạm Văn N theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/3/2021, tôi nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Ủy ban nhân dân Thành phố B có Văn bản số 3602/UBND – ĐT ngày 26 tháng 3 năm 2021 về việc kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận QSDĐ của ông Phạm Văn N tại phường T như sau:
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013; căn cứ khoản 2, Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định việc xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004 thì trường hợp sử dụng đất của ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R đối với thửa đất số 33 tờ bản đồ số 16, phường T không đủ điều kiện xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”
Hành vi của Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai là trái quy định của pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi ích hợp pháp của gia đình tôi, quy định tại Điều 20 khoản 1 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
- -Tuyên hủy văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26/3/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N tại phường T.
- - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 33 tờ bản đồ số 16, phường T, diện tích 137,1 m² cho ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R.
Đại diện theo ủy quyền Người bị kiện - Ủy ban nhân dân thành phố B trình bày:
- Đối với nội dung ông N yêu cầu Tòa án tuyên hủy Văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26/3/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai về việc kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N. Vấn đề này như sau:
Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả thành phố B có tiếp nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16 phường T từ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thành phố chuyển giao, mã 000.00.22.H19-210305-0115.
Theo Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R, được Ủy ban nhân dân phường T xác nhận ngày 05/12/2018, thể hiện: Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16 phường T do ông Phạm Văn N đang sử dụng có nguồn gốc do ông Phạm C và bà Lê Thị B nhận chuyển nhượng của bà Trương Thị G theo tờ bán đứt và trọn sở được Tỉnh trưởng Biên Hòa xác nhận ngày 24/4/1959. Năm 1997, ông C, bà B tặng quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn N cùng vợ là Nguyễn Thị R. Đến ngày 28/7/1998, ông N xây dựng nhà ở sử dụng đến nay.
Theo Trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ thực hiện ngày 11/8/2018, thì thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16 phường T do ông Phạm Văn N đang sử dụng thuộc chức năng quy hoạch đất giao thông và đất ở dự án (Căn cứ bản đồ quy hoạch xây dựng lên bản đồ địa chính phường T tỷ lệ 1/2000 đã được UBND tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số 558/QĐ-UBND ngày 19/02/2013).
Căn cứ Khoản 2, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 2, Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử - dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các tri loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:
“Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất, phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch, chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất”.
Theo đó, thì trường hợp sử dụng đất của ông Phạm Văn N có nhà xây dựng ngày 28/7/1998 (theo nội dung đơn ông N kê khai), được UBND phường T xác nhận ngày 05/12/2018. Đồng thời, theo Trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ thực hiện ngày 11/8/2018, thì thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16 phường T do ông Phạm Văn N đang sử dụng thuộc chức năng quy hoạch đất giao thông và đất ở dự án (42,5m² nằm trong quy hoạch đất giao thông và 94,6m² đất ở dự án). Phòng T thành phố đã tham mưu UBND thành phố B ban hành Văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26/3/2021 về kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N ngụ tại B, khu phố A, phường T, thành phố B, theo đó thông báo trường hợp sử dụng đất của ông (bà) tại thửa đất nêu trên không đủ điều kiện được xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do ông (bà) xây dựng nhà vào ngày 28/7/1998, sau thời điểm UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 03/4/1998 phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phường T (quy hoạch đầu tiên) và vị trí thửa đất ông (bà) đang sử dụng hiện nay không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 thành phố B tỷ lệ 1/10.000, đã được UBND tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số 4738/QD-UBND ngày 27/12/2017 là đảm bảo đúng quy định pháp luật về đất đai.
- Đối với nội dung ông N1 yêu cầu Tòa án Buộc Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, diện tích 137,1m² thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R. Vấn đề này như sau:
Căn cứ Khoản 2, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 2, Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định.
Căn cứ Quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 03/4/1998 của UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phường T (quy hoạch đầu tiên) và vị trí thửa đất ông (bà) đang sử dụng hiện nay không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 thành phố B tỷ lệ 1/10.000, đã được UBND tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số 4738/QD-UBND ngày 27/12/2017
Việc ông Phạm Văn N khởi kiện buộc UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, diện tích 137,1m² thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16, phường T, thành phố B, là không có căn cứ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:
Tại thời điểm năm 2019 - 2021, ông Lê Việt D với tư cách là Giám đốc Thống nhất theo lời trình bày của người bị kiện, thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16 phường T do ông Phạm Văn N đang sử dụng thuộc chức năng quy hoạch đất giao thông và đất ở dự án (Căn cứ bản đồ quy hoạch xây dựng lên bản đồ địa chính phường T tỷ lệ 1/2000 đã được UBND tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số 558/QĐ-UBND ngày 19/02/2013). Do vậy, việc ông Phạm Văn N khởi kiện yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, diện tích 137,1m² thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16, phường T, là không có cơ sở xem xét giải quyết.
Tại Bản án số 82/2023/HC-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Căn cứ các Điều 3, 30, 32, 115, 158, 193, 194 và khoản 1 Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính;Căn cứ khoản 2, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 2, Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính về việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”;
- - Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R, về yêu cầu hủy văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, của thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, diện tích 137,1 m² cho ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R, là đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 12/10/2023, người khởi kiện ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị huỷ bản án sơ thẩm, huỷ văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26/3/2021 của UBND thành phố B về việc kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R tại phương T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, tuyên huỷ bản án sơ thẩm, huỷ văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26/3/2021 của UBND thành phố B về việc kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R tại phương T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện, viện kiểm sát nhận thấy bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến tranh luận của các bên đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R nộp trong thời hạn quy định của pháp luật nên hợp lệ.
- Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền và thời hiệu giải quyết vụ án:
Ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R yêu cầu hủy Văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N tại phường T và buộc Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, của thửa đất số 33 tờ bản đồ số 16 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, diện tích 137,1m² cho ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R. Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Khiếu kiện hành vi hành chính về việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và còn thời hiệu giải quyết tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính là đúng quy định
Về nội dung:
- Về thẩm quyền ban hành:
Văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N tại phường T, thành phố B thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban thành phố B là đúng quy định khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013.
- Về nội dung quyết định:
Về nguồn gốc đất: Diện tích đất 137,1² thuộc thửa 33, tờ bản đồ số 16 tọa lạc tại số B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do ông Phạm C và bà Lê Thị B nhận chuyển nhượng của bà Trương Thị G theo tờ bán đứt và trọn sở được Tỉnh trưởng Biên Hòa xác nhận ngày 24 tháng 4 năm 1959. Năm 1997, ông C, bà B tặng quyền sử dụng đất trên cho ông Phạm Văn N cùng vợ là Nguyễn Thị R. Đến ngày 28 tháng 7 năm 1998, ông N xây dựng nhà ở sử dụng đến nay.
Xét thấy, ông Phạm Văn N xây nhà vào ngày 28/7/1998 (theo nội dung đơn ông N kê khai), được UBND phường T xác nhận ngày 05/12/2018. Đồng thời, theo Trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ thực hiện ngày 11/8/2018, thì thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16 phường T do ông Phạm Văn N đang sử dụng thuộc chức năng quy hoạch đất giao thông và đất ở dự án (trong đó có 42,5m² nằm trong quy hoạch đất giao thông và 94,6m² đất ở dự án). Như vậy, ông (bà) xây dựng nhà vào ngày 28/7/1998, sau thời điểm UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 03/4/1998 phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phường T (quy hoạch đầu tiên) và vị trí thửa đất ông (bà) đang sử dụng hiện nay không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 thành phố B tỷ lệ 1/10.000, đã được UBND tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số 4738/QD-UB 27/12/2017 nên đất của ông bà không đủ điều kiện được xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Do vậy, Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R về việc yêu cầu hủy Văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B và buộc Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 33 tờ bản đồ số 16, phường T, diện tích 137,1 m² cho ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- Ông N, bà R kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án, do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quan điểm đại diện Viện kiểm sát cấp cao, bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về án phí hành chính phúc thẩm: Do ông N, bà R là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 82/2023/HC-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ các Điều 3, 30, 32, 115, 158, 193, 194 và khoản 1 Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ khoản 2, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 2, Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N, bà Nguyễn Thị R đối với các yêu cầu sau:
- Hủy Văn bản số 3602/UBND-ĐT ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc kết quả thẩm tra hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn N tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, của thửa đất số 33, tờ bản đồ số 16 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, diện tích 137,1 m² cho ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R.
- Về án sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị R được miễn án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |
Bản án số 705/2024/HC-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện hành vi hành chính về việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Số bản án: 705/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hành vi hành chính về việc không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
