|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 704/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08-8-2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Định.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Ngọc Thủy.
- Ông Lại Hữu Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 217/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 698/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm: 1993 (Vắng mặt - Có đơn xin vắng mặt tại tòa).
Địa chỉ: Số 1 B9/2 ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bị đơn: Ông Bồ Văn Đ, sinh năm: 1987 (Vắng mặt - Có đơn xin vắng mặt tại tòa).
Địa chỉ: Số 1 B9/2 ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được – nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc G trình bày: Bà và ông Bồ Văn Đ chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn trễ hạn vào ngày 20/6/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống bình thường, không có gì xảy ra. Đến tháng 10 năm 2014, bà cảm thấy không còn tình cảm với chồng bà (ông Đ), bà tự ý dọn ra bên ngoài sinh sống, vợ chồng sống ly thân kể từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bồ Văn Đ.
Về con chung: Bà và ông Bồ Văn Đ chung sống có 01 (một) con chung là trẻ Bồ Gia B (nam), sinh ngày 04/10/2012, hiện trẻ B đang sống chung với ông Đ. Khi ly hôn, bà đồng ý giao trẻ B cho ông Đ được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ B, bà xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 28/7/2024, bị đơn ông Bồ Văn Đ trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc G chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn trễ hạn vào ngày 20/6/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống bình thường, không có gì xảy ra. Đến tháng 10 năm 2014, bà G tự ý dọn ra bên ngoài sinh sống, bà G không có trách nhiệm với gia đình, một mình ông phải tự nuôi con, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc G.
Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc G chung sống có 01 (một) con chung là trẻ Bồ Gia B (nam), sinh ngày 04/10/2012, hiện trẻ B đang sống chung với ông. Khi ly hôn, ông yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ B, ông không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Ngọc G nộp đơn xin ly hôn đối với ông Bồ Văn Đ. Ông Bồ Văn Đ hiện đang cư trú tại huyện Bình Chánh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 64, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ vào ngày 20/6/2012 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ là hôn nhân hợp pháp được quy định tại các Điều 9, 10, 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
[4] Bà G xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng đối với nhau không còn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo lời trình bày của bà G thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, mỗi người sống mỗi nơi, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Như vậy, vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình. Đồng thời ông Bồ Văn Đ cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc G vì tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc G đối với ông Bồ Văn Đ.
[5] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ có 01 con chung tên Bồ Gia B, giới tính nam, sinh ngày 04/10/2012, hiện nay trẻ B đang sống với ông Đ. Sau khi ly hôn, bà G đồng ý giao con chung trẻ B cho ông Đ tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và bà xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông Đ có yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ B, ông không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến của trẻ Bồ Gia B có nguyện vọng sống chung với ông Bồ Gia B.
Căn cứ các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Bồ Văn Đ, giao trẻ Bồ Gia B, giới tính nam, sinh ngày 04/10/2012 cho ông Đ tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Nguyễn Thị Ngọc G cho đến khi ông Đ có yêu cầu.
[6] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 9, 10, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc G đối với ông Bồ Văn Đ.
Bà Nguyễn Thị Ngọc G được ly hôn với ông Bồ Văn Đ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 64, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã Phú thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 20/6/2012 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ có 01 (một) con chung tên Bồ Gia B, giới tính: nam, sinh ngày 04/10/2012. Ông Bồ Văn Đ được quyền tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ Bồ Gia B; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Nguyễn Thị Ngọc G.
Bà Nguyễn Thị Ngọc G có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc G chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng mà bà G đã nộp theo biên lai thu số 0033388 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà G đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc G và ông Bồ Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
2000013 640208 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Định |
Bản án số 704/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 704/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc G, Bồ Văn Đ
