Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Bản án số: 704/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 01 - 12 - 2025.

Về việc tranh chấp ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Văn Đức.
  • Bà Ngô Thị Yêm.

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thông – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 01/12/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 373/2025/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1980, căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát cấp ngày 18/09/2022.

Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983, căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát cấp ngày 10/7/2021. Vắng mặt tại phiên toà.

Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: B M, A – 1024 – NewZeland; Hộ chiếu số P01080376 cấp ngày 15/12/2022.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị L để nhận các văn bản tố tụng là: Bà Nguyễn Thị Minh T, căn cước công dân số [...], nơi cư trú: Thôn H, xã T, thành phố Hà Nội (Có lời khai uỷ quyền đã được Đại sứ quán Việt Nam tại New Zealand chứng thực ngày 25/10/2025).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tuấn C và bà Nguyễn Thị L kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội) ngày 29/4/2008. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống với nhau tại thôn H, xã T, thành phố Hà Nội, ở riêng.

Theo ông C trình bày: Quá trình chung sống đến năm 2022 giữa ông bà nảy sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế. Năm 2023, mâu thuẫn giữa ông bà ngày càng trầm trọng hơn nên ông bà đã sống ly thân và sau đó bà L đi xuất khẩu lao động tại NewZealand cho đến nay. Do đã có mâu thuẫn từ trước và bà L lại đi xuất khẩu lao động nên ông bà không có cơ hội để hoà giải dẫn đến tình cảm ngày càng phai nhạt. Ông C xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung với bà L không có hạnh phúc, thời gian ly thân kéo dài nên đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L để ổn định cuộc sống.

Bà Nguyễn Thị L trình bày: Tháng 6 năm 2023, bà đi xuất khẩu lao động tại NewZealand đến nay đã được hơn hai năm. Do vậy, ông bà xa cách về địa lý và rồi tình cảm cũng dần xa cách, quan điểm sống bất đồng nên nảy sinh mâu thuẫn, cãi cọ. Ông bà cũng đã cố gắng nói chuyện để kết nối lại nhưng không có kết quả. Ông C xin ly hôn, bà nhất trí vì bản thân bà cũng muốn ly hôn.

Về con chung: Ông bà cùng xác định có 03 con chung là: Nguyễn Phương U, sinh ngày 02/04/2009, Nguyễn Hương G, sinh ngày 29/11/2012 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 05/8/2015. Các cháu khoẻ mạnh, bình thường và đang ở cùng ông C.

Ly hôn, ông C và bà L cùng thống nhất đề nghị giao cả ba con chung cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác và trong thời gian bà L chưa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc được các con do đang ở nước ngoài thì ông C sẽ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung ông bà tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông bà cùng xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Ông C giữ nguyên các ý kiến, yêu cầu đã trình bày với Tòa án. Ông xác định: Do đã có những bất đồng từ trước khi bà L đi xuất khẩu lao động nên sau khi bà L đi tình cảm giữa ông bà ngày càng phai nhạt, mâu thuẫn không thể khắc phục nên ông xin ly hôn và bà L cũng đồng ý. Về con chung: Ông bà có ba con chung và theo nguyện vọng của các con cũng như vợ chồng ông đã thống nhất khi ly hôn để cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba con chung của ông bà nhưng do hiện nay bà đang ở nước ngoài nên ông sẽ tạm thời chăm sóc các con chung của ông bà cho đến khi bà L có điều kiện chăm sóc trực tiếp các con chung của ông bà. Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung ông bà tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Ngoài ra, ông không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội về việc giải quyết vụ án:

Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Tuấn C với bà Nguyễn Thị L.

Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của ông C, bà L giao các con chung là các cháu Nguyễn Phương U, sinh ngày 02/04/2009, Nguyễn Hương G, sinh ngày 29/11/2012 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 05/8/2015 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian bà L chưa về Việt Nam đón các con chung thì ông Nguyễn Tuấn C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các bên không yêu cầu nên Toà án không phải giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Tuấn C chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, có lời khai xin vắng mặt trong quá trình xét xử và giải quyết vụ án do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, dành quyền kháng cáo cho bà theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Tuấn C và bà Nguyễn Thị L: Ông bà tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 29/4/2008 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội). Do vậy, xác định quan hệ hôn nhân của ông Nguyễn Tuấn C và bà Nguyễn Thị L là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Ông C và bà L cùng có lời khai thống nhất xác định: Ông bà chung sống đến thời điểm bà L đi xuất khẩu lao động là tháng 6 năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn và do khoảng cách địa lý khiến ông bà không thể khắc phục mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của ông bà là do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Ông C xin ly hôn, bà L cũng đã có Đơn xin ly hôn và văn bản thể hiện quan điểm đối với cuộc hôn nhân của ông bà có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại NewZealand gửi cho ông C để ông nộp cùng đơn xin ly hôn của ông. Sau khi Toà án thụ lý đơn xin ly hôn của ông C đã thông báo cho bà L và bà đã có văn bản thể hiện quan điểm của bà đồng ý đối với yêu cầu xin ly hôn của ông C và các nội dung có liên quan đến việc ly hôn mà ông C đề nghị Toà án giải quyết, xin vắng mặt trong quá trình Toà án xét xử và giải quyết vụ án, không đến tham gia phiên hoà giải đồng thời uỷ quyền cho người đại diện thay bà nhận các văn bản tố tụng của Toà án; văn bản thể hiện ý kiến của bà L có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại NewZealand. Theo lời khai của ông bà cho thấy ông bà ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Tuấn C với bà Nguyễn Thị L là phù hợp.

[3] Về con chung: Ông bà có ba con chung là: Nguyễn Phương U, sinh ngày 02/04/2009, Nguyễn Hương G, sinh ngày 29/11/2012 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 05/8/2015. Các cháu khoẻ mạnh, bình thường và đang ở cùng ông C. Các con chung của ông bà đều có đơn nguyện vọng xin được ở cùng với mẹ. Ông C và bà L cùng đề nghị khi ly hôn giao cả ba con chung cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác và trong thời gian bà L chưa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc được các con do đang ở nước ngoài thì ông C sẽ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung cho đến khi bà L có đủ điều kiện, khả năng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Ông C, bà L có quan điểm thống nhất về giao nuôi con khi ly hôn và quan điểm này của ông bà phù hợp với nguyện vọng của các con chung cũng như quy định của pháp luật nên ghi nhận là phù hợp. Ông C, bà L có quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung ông bà cùng xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Toà án không giải quyết.

[4] Về tài sản chung của vợ chồng: Ông bà cùng xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, ông Nguyễn Tuấn C phải chịu là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Tuấn C với bà Nguyễn Thị L. Ông Nguyễn Tuấn C được ly hôn bà Nguyễn Thị L.

Về con chung: Ông Nguyễn Tuấn C và bà Nguyễn Thị L có ba con chung là Nguyễn Phương U, sinh ngày 02/04/2009, Nguyễn Hương G, sinh ngày 29/11/2012 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 05/8/2015. Ly hôn, giao cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung của ông bà cho đến khi các cháu thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Trong thời gian bà L chưa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc được các con do đang ở nước ngoài, giao ông C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung cho đến khi bà L có đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung của ông bà. Ông Nguyễn Tuấn C và bà Nguyễn Thị L đều có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

Về tài sản chung, nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, ông Nguyễn Tuấn C chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E số 0011126 ngày 10/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Ông C đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, ông Nguyễn Tuấn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Khu vực 7 – Hà Nội;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 7-Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Vân Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội nay là UBND xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội (GCN kết hôn số 44, quyển số 01 ngày 29/4/2008);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 704/2025/HNGĐ - ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 704/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn C và Nguyễn Thị L ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger