Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 704/2024/HS-PT

Ngày: 22 - 08 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh

Bà Bùi Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 231/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh H do có kháng cáo kêu oan của bị cáo đối với bản án số 10/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 739/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 8 năm 2024.

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Thanh H, sinh năm 1986 tại Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Ánh M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2022 đến nay. (có mặt)

- Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo H: Luật sư Bùi Phương N và luật sư Nguyễn Văn N1 – Đoàn luật sư thành phố H. (có mặt)

Bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị:

Trần Hoàng H1, sinh năm 1980 tại Cà Mau. Nơi cư trú: Số A, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoài H2 (chết) và bà Nguyễn Thị T1; vợ: Lê Thị Mỹ H2 (đã ly hôn); có 02 người con, sinh năm 2013 và 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt,

tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2017 đến nay. (có mặt)

- Người bị hại:

  1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1986 (đồng thời là bị cáo trong vụ án).
  2. Ông Trương Trường H3, sinh năm 1987.

    Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Nguyễn Thị Kiều T2, sinh năm 1994.

    Nơi cư trú: Số F, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

  4. Ông Phạm Minh T3, sinh năm 1981.

    Nơi cư trú: Số B, khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

  5. Hồ Thị Mỹ N3, sinh năm 1994.

    Nơi cư trú: Ấp C, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

  6. Ông Nguyễn Phúc T4, sinh năm 1988.

    Nơi cư trú: Số F đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Thị N4, sinh năm 1965.

    Nơi cư trú: Số F, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

  2. Phạm Thị N5, sinh năm 1957.

    Nơi cư trú: Ấp C, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

  3. Đoàn Thị Mỹ T5, sinh năm 1990.

    Nơi cư trú: Ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  4. Mai Kim H4, sinh năm 1961.

    Nơi cư trú: Số F, tổ G, đường N, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.

  5. Ông Lê Văn T6, sinh năm 1980.

    Nơi cư trú: Số A, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2005 Trần Hoàng H1 công tác tại Trung đội lái xe Tiểu đoàn A, thuộc Trung đoàn Cảnh sát cơ động T10 (TĐCSCĐ T). Đến tháng 8/2016, H1 được điều động công tác đến Công an phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Đến ngày 17/5/2017, H1 có Quyết định xuất ngũ với cấp hàm Đại úy.

Vào khoảng đầu năm 2015 H1 lợi dụng đang công tác trong ngành Công an, biết nhiều người có nhu cầu xin vào Ngành, nên H1 đã đưa ra các thông tin gian dối là TĐCSCĐ Tây Nam B đang thành lập Bệnh xá nên cần tuyển dụng công dân vào lực lượng Công an nhân dân với các chuyên ngành y, dược, kế

toán, công nghệ thông tin... với thủ đoạn nhận hồ sơ, nhận tiền trước để xét tuyển vào ngành Công an, H1 đã chiếm đoạt tiền của 06 người là Nguyễn Thanh H, Trương Trường H3, Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Minh T3, Nguyễn Phúc T4Hồ Thị Mỹ N3. Trong đó Nguyễn Thanh H ban đầu là bị hại, sau đó là đồng phạm có vai trò giúp sức cho H1 chiếm đoạt tiền của những bị hại khác.

Cụ thể các vụ và số tiền Trần Hoàng H1, Nguyễn Thanh H đã chiếm đoạt được như sau:

Vụ 1: Trần Hoàng H1 chiếm đoạt tiền của Nguyễn Thanh H:

Năm 2015, Trần Hoàng H1 quen biết với Nguyễn Thanh H, biết H có nhu cầu được tuyển dụng vào ngành Công an, nên H1 nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của H bằng cách hứa sẽ xin cho H vào TĐCSCĐ T. H1 nói với H là TĐCSCĐ Tây Nam Bộ đang xây dựng Bệnh xá, có chỉ tiêu xét tuyển công dân vào lực lượng Công an nhân dân với chuyên ngành y, dược, kế toán, công nghệ thông tin..., sau thời gian tạm tuyển sáu tháng sẽ chính thức vào biên chế, chi phí là 160.000.000 đồng/hồ sơ, khi nộp hồ sơ thì đưa trước 70.000.000 đồng, khi có quyết định chính thức thì sẽ đưa số tiền còn lại, H đồng ý. Sau đó, H1 đưa cho H một quyển lý lịch cán bộ, hướng dẫn H viết lý lịch cá nhân nộp cùng với bằng cấp, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu. H đã đưa trước cho H1 số tiền 70.000.000 đồng cùng hồ sơ xin việc.

Vụ 2: Trần Hoàng H1, Nguyễn Thanh H chiếm đoạt tiền của Trương Trường H3:

Trương Trường H3Nguyễn Thanh H là bạn học. Vào khoảng tháng 4/2015 H giới thiệu với H3 trong TĐCSCĐ Tây Nam B đang có chỉ tiêu tạm tuyển vào ngành, hỏi H3 có muốn vào làm không, H nói gởi hồ sơ với chi phí là 300.000.000 đồng, H3 đồng ý. H hướng dẫn H3 làm hồ sơ rồi đưa lại cho H, H3 đưa trước cho H 200.000.000 đồng, sau đó H3 đưa thêm cho H 100.000.000 đồng.

Số tiền 300.000.000 đồng nhận của H3, H đưa cho Trần Hoàng H1 160.000.000 đồng cùng với hồ sơ, nhưng H mượn lại 50.000.000 đồng, thực tế chỉ đưa cho H1 110.000.000 đồng, còn lại 140.000.000 đồng và tiền mượn lại 50.000.000 đồng H giữ lại.

Vụ 3: Trần Hoàng H1, Nguyễn Thanh H chiếm đoạt tiền của Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Minh T3:

Khoảng tháng 9/2015, Trương Trường H3 đi trình dược thuốc tây cho bà Lê Thị N4, tại số F, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. H3 nói với bà N4H3 đang xin vào TĐCSCĐ Tây Nam B và đang đợi Quyết định để đi làm. Bà N4 có con là Nguyễn Thị Kiều T2 và cháu là Phạm Minh T3 cũng muốn vào ngành Công an, nên bà N4 nhờ H3 hỏi dùm, mọi chi phí bà N4 sẽ lo hết. Trương Trường H3 liên hệ với Nguyễn Thanh H, hỏi xem còn chỉ tiêu hay không thì H nói là còn nhận hồ sơ xét tuyển, chi phí 300.000.000 đồng/hồ sơ. H3 nói lại với bà Lê Thị N4 là xin vào ngành với chi phí 350.000.000 đồng/hồ sơ, H3 hướng dẫn T2T3 viết hồ sơ. Bà N4 đưa tiền cho H3 03 lần với tổng số tiền là 700.000.000 đồng.

Trương Trường H3 đưa cho Nguyễn Thanh H 600.000.000 đồng, giữ lại 100.000.000 đồng.

3

Nguyễn Thanh H đưa cho Trần Hoàng H1 320.000.000 đồng, còn 280.000.000 đồng H giữ lại.

Vụ 4: Trần Hoàng H1, Nguyễn Thanh H chiếm đoạt tiền của Nguyễn Phúc T4:

Nguyễn Thanh HNguyễn Phúc T4 có mối quan hệ quen biết. Vào khoảng tháng 7/2015 khi gặp T4, H nói với T4H có quen biết với lãnh đạo TĐCSCĐ Tây Nam B, H đã nộp hồ sơ xin tạm tuyển với chi phí 300.000.000 đồng, đang chờ quyết định để vào làm việc. T4 nghe H nói vậy nên T4 nhờ H hỏi xem còn chỉ tiêu hay không, để xin cho T4 vào làm việc tại TĐCSCĐ Tây Nam B, H nói còn chỉ tiêu, chi phí là 300.000.000 đồng. T4 đồng ý, H hướng dẫn T4 làm hồ sơ, T4 đưa tiền cho H 03 lần, tổng cộng 300.000.000 đồng.

Số tiền 300.000.000 đồng nhận của T4, H đưa cho H1 160.000.000 đồng, còn 140.000.000 đồng H giữ lại.

Vụ 5: Trần Hoàng H1, Nguyễn Thanh H chiếm đoạt tiền của Hồ Thị Mỹ N3:

Khoảng cuối tháng 11/2015, Nguyễn Thanh H, Đoàn Thị Mỹ T5Hồ Thị Mỹ N3 (T5 là bạn gái H, T5N3 là chị em bà con) cùng đi về quê của T5 chơi. Lúc này, H biết N3 đang xin việc làm, nên H nói trong TĐCSCĐ Tây Nam B đang xây bệnh xá, H có quen biết với lãnh đạo TĐCSCĐ Tây Nam B sẽ xin cho N3 vào làm với chi phí 300.000.000 đồng. N3 đồng ý, N3 đưa tiền cho H 02 lần, tổng cộng là 300.000.000 đồng, đồng thời N3 có đưa cho H một bộ hồ sơ xin vào ngành Công an (hồ sơ Nhung thi tuyển vào ngành Công an năm 2014 còn giữ lại).

Số tiền 300.000.000 đồng nhận của N3, H đưa cho H1 160.000.000 đồng, còn 140.000.000 đồng H giữ lại.

Đến cuối tháng 12/2016, Nguyễn Thanh H nói với Trương Trường H3, Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Minh T3, Nguyễn Phúc T4, Hồ Thị Mỹ N3 là thu thêm mỗi người 10.000.000 đồng để làm chi phí cho lãnh đạo TĐCSCĐ Tây Nam B đi Hà Nội nhận quyết định tuyển dụng vào ngành Công an. H nhận của T2, T3 mỗi người 5.000.000 đồng; H nhận của H3, N3, T4 mỗi người 10.000.000 đồng, tổng cộng 40.000.000 đồng. H nhận 40.000.000 đồng, không đưa cho H1.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thanh H đã nhận của 05 bị hại H3, T2, T3, T4, N3 là 1.540.000.000 đồng. H đưa cho H1 750.000.000 đồng. H giữ lại 790.000.000 đồng.

Tổng số tiền Trần Hoàng H1 chiếm đoạt của 05 bị hại có tên nêu trên và của Nguyễn Thanh H là 820.000.000 đồng.

Trần Hoàng H1 sau khi nhận 06 hồ sơ và tiền của những người xin việc vào TĐCSCĐ T, Trần Hoàng H1 không liên hệ xin việc vì trong TĐCSCĐ Tây Nam B không có chỉ tiêu tuyển dụng công dân vào ngành Công an. H1 đã chiếm đoạt tiền vì mục đích cá nhân. Các hồ sơ sau khi nhận, H1 đã bỏ nên không thu hồi được.

4

Đến tháng 11/2016 vẫn chưa có Quyết định tuyển dụng nên các bị hại H3, T2, T3, T4N3 hối thúc H, nên H dẫn các bị hại đi đến gặp Trần Hoàng H1. H1 đưa ra nhiều lý do bệnh xá xây chưa xong, lãnh đạo đi công tác, đơn vị đang có thanh tra. Khi gặp các bị hại H1H đều nói người nhận hồ sơ tên là Từ Huy C. Để cho các bị hại tin tưởng và nhằm kéo dài thời gian. H1H đã bàn bạc làm giả quyết định đưa cho các bị hại tạm thời, H làm giả 02 quyết định photocopy số 1137/QĐ-K20P2 ngày 24/11/2015 của Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động về việc tuyển dụng công dân vào ngành và lực lượng Công an nhân dân, quyết định cho TĐCSCĐ Tây Nam B tuyển dụng công dân vào lực lượng Công an nhân dân, mỗi quyết định có 03 tên bị hại.

Ngoài ra, H1 kêu H viết giấy cam kết lấy tên giả là Từ Huy C, cấp hàm Đại úy, công tác tại TĐCSCĐ T, cam kết trong thời gian 22 ngày kể từ ngày 03/01/2017 sẽ có quyết định chính thức để đưa cho các bị hại. Sau đó, H nhiều lần dẫn các bị hại đến căn tin TĐCSCĐ T để cho H1 tiếp xúc với họ, H1 xác nhận với các bị hại việc xin vào Ngành là có thật và kêu mọi người chờ đợi thêm vì lãnh đạo cơ quan thay đổi và bận đi công tác nên chưa bố trí sắp xếp công việc được.

Đến tháng 02/2017, các bị hại H3, T2, T3, T4N3 nhận được các quyết định ghi số 1233/QĐ-E21-BCT ngày 01/02/2017 của TĐCSCĐ Tây Nam B về việc tiếp nhận và phân công công tác cán bộ có dấu tròn mộc đỏ ghi TĐCSCĐ Tây Nam Bộ do Thượng tá Nguyễn Tấn P, chức vụ Trung Đoàn trưởng ký. Các quyết định trên do H giao cho các bị hại, sau đó, H gặp các bị hại thu hồi lại các quyết định trên với lý do lãnh đạo yêu cầu thu hồi lại đợi đến ngày 23/3/2017 khi đến TĐCSCĐ Tây Nam B nhận công tác sẽ trao quyết định về việc tiếp nhận và phân công công tác.

Ngoài ra, khoảng tháng 12/2016, H1 còn đưa cho H 01 thẻ đảng viên số 85029950 mang tên Trần Hoàng H1, nhờ H đi scan màu thành 02 thẻ đảng viên để H1 thế chấp vay mượn tiền. H1 sử dụng 01 thẻ đảng viên scan màu thế chấp cho bà Mai Kim H4 để vay số tiền 10.000.000 đồng, đến nay chưa trả tiền cho bà H4; thẻ đảng viên scan màu còn lại H1 thế chấp cho anh Lê Văn T6 để vay số tiền 20.000.000 đồng, H1 đã trả số tiền 6.000.000 đồng, còn lại 14.000.000 đồng chưa trả anh T6.

Đến ngày hẹn, các bị hại không nhận được việc làm như trong quyết định, nên ngày 18/5/2017 bà Lê Thị N4Phạm Thị Thu T7 tố giác Trần Hoàng H1, Nguyễn Thanh H, Trương Trường H3 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nguyễn Phúc T4, Trương Trường H3, Hồ Thị Mỹ N3 làm đơn tố giác Nguyễn Thanh H có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ các đồ vật, tài liệu sau:

- Tiền Việt Nam 285.000.000 đồng do gia đình Trần Hoàng H1 giao nộp để khắc phục hậu quả cho H1;

- 01 quyết định (bản photo) số 1137/QĐ-K20P2 ngày 24/11/2015 của Bộ tư lệnh Cảnh sát cơ động về tuyển dụng công dân và lực lượng Công an nhân dân.

5

Nội dung là đồng ý cho TĐCSCĐ Tây Nam B tuyển dụng Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Minh T3, Nguyễn Thanh H;

- 02 quyết định (bản photo) số 1233 ngày 01/02/2017 của T11 tiếp nhận phân công Phạm Minh T3, Nguyễn Thị Kiều T2 công tác tại TĐCSCĐ Tây Nam B kể từ ngày 28/3/2017;

- Thu giữ đồ vật, tài liệu do Hồ Thị Mỹ N3 giao nộp: 01 quyết định (bản photo) số 1137/QĐ-K20P2 ngày 24/11/2015 của Bộ tư lệnh cảnh sát cơ động về tuyển dụng công dân và lực lượng công an nhân dân; 01 quyết định số 1233/QĐ-E21 ngày 01/02/2017 của T11 tiếp nhận phân công công tác cán bộ có dấu tròn màu đỏ ghi “BỘ TƯ LỆNH CẢNH SÁT CƠ ĐỘNG - TRUNG ĐOÀN 21”, có chữ ký ghi tên Thượng tá Nguyễn Tấn P, quyết định ghi tên Hồ Thị Mỹ N3;

- Thu giữ đồ vật, tài liệu do Trương Trường H3 giao nộp: 03 cuốn lý lịch cán bộ, công chức; 01 giấy cam kết ghi bằng giấy tập học sinh, ghi tên Từ Huy Cường ghi ngày 03/01/2017; 02 giấy thỏa thuận viết tay (bản photo) ghi ngày 22/5/2017 và 29/5/2017; 02 giấy biên nhận viết tay (bản photo) ghi ngày 15/6/2017 và 22/6/2017;

- Thu giữ đồ vật, tài liệu do Phạm Thị N5 giao nộp: 01 cuốn lý lịch cán bộ, công chức có chữ ký của bà N5 đánh số thứ tự từ 01 đến 10; 01 USB có 03 file ghi âm cuộc điện thoại giữa bà N5, HT5;

- Thu giữ đồ vật, tài liệu do bà Mai Kim H4 giao nộp: 01 Thẻ đảng viên số 85.029950 mang tên Trần Hoàng H1; 02 giấy biên nhận mượn tiền (bản photo) ghi ngày 26/9/2016 và ngày 22/12/2016 ký tên Trần Hoàng H1;

- Thu giữ đồ vật, tài liệu do ông Lê Văn T6 giao nộp: 01 Thẻ đảng viên số 85.029950 mang tên Trần Hoàng H1, 01 biên nhận ghi ngày 25/01/2017;

- Thu giữ đồ vật, tài liệu do bà Lê Thị Mỹ H2 giao nộp: 01 quyết định ghi số 1868/QĐ-K20(P2) ngày 20/7/2011 của Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động về việc thăng cấp bậc hàm, nâng bậc lương SQ, HSQ nghiệp vụ ghi tên Trần Hoàng H1;

- Thu giữ đồ vật, tài liệu do Nguyễn Thanh H giao nộp: 01 tờ giấy A4 ghi: quyết định về việc tiếp nhận và phân công công tác cán bộ số 1233/QĐ-E21-BCT ngày 01/02/2017 của TĐCSCĐ Tây Nam B, trên giấy có dấu mộc đỏ; 01 máy tính bảng, nhãn hiệu Asus màu đen, số Imei 1: 353770066188369, số Imei 2: 353770066188377; 01 USB màu đỏ dung lượng 8GB có 03 đoạn ghi âm (02 đoạn ghi âm ghi ngày 31/12/2016, 01 đoạn ghi ngày 22/5/2017); 01 giấy cam kết trả tiền (bản photo) ghi ngày 02/01/2017 ký và ghi tên Từ Huy Cường;

- Thu giữ tài liệu do bà Nguyễn Thị Ánh M giao nộp: 05 bằng khen tên Nguyễn Văn T (bản sao y); 05 giấy Huân chương chiến công tên Nguyễn Văn T (bản sao y).

Qua các minh xác định ngày 11/01/2016 TĐCSCĐ Tây Nam B không ban hành văn bản sao y số 517, đồng chí Thượng tá Hoàng Viết T8 đã chuyển công tác từ tháng 02/2013, nên không thể ký “trích sao y” như trong quyết định số 1137/QĐ-K20P2 ngày 24/11/2015. Trung đoàn cũng không có thẩm quyền tuyển

6

dụng công dân vào lực lượng Công an nhân dân; Đối với số quyết định 1233 ngày 01/02/2017 T10 không ban hành văn bản này, trong ngày 01/02/2017 Trung đoàn chỉ ban hành 02 văn bản số 99 và số 100. Ngoài ra, cán bộ, chiến sĩ tại TĐCSCĐ T không có ai tên Từ Huy C.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố C đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 02 quyết định cùng số 1233/QĐ-E21-BCT cùng ngày 01/02/2017; 02 quyết định photocopy cùng số 1137/QĐ-K20P2 cùng ngày 24/11/2015; 02 thẻ đảng viên ghi cùng số 85029950 tên Trần Hoàng H1; 03 File ghi âm do Nguyễn Thanh H giao nộp.

Tại Kết luận giám định số 99/KLGĐ-PC45 ngày 26/5/2017 của Phòng K, Công an thành phố C kết luận: hình dấu và chữ ký trên 02 quyết định ghi cùng số 1233/QĐ-E21-BCT đề cùng ngày 01/02/2017, ghi Trung đoàn Cảnh sát cơ động về việc tiếp nhận và phân công công tác cán bộ là hình dấu và chữ ký được làm giả bằng phương pháp phun màu.

Tại Kết luận giám định số 17/KLGĐ-PC54 ngày 23/02/2018 của Phòng K, Công an thành phố C kết luận:

  1. Nội dung photocoppy các chữ bắt đầu và kết thúc bằng từ: “Trung đoàn cảnh sát cơ động T số 517/SY-E21-BT, Trích sao y bản chính... Thượng tá Hoàng Viết T8” và hình dấu tròn, chữ ký tên Hoàng Viết T8 của 02 tài liệu cần giám định được photocopy từ tài liệu mẫu so sánh (Quyết định số 1868/QĐ-K20(P2) ngày 20/7/2011 của Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động về việc thăng cấp bậc hàm, nâng bậc lương SQ, HSQ nghiệp vụ ghi tên Trần Hoàng H1).
  2. Không đủ cơ sở kết luận 02 quyết định photocoppy số 1137/QĐ-K20P2 ghi ngày 24/11/2015 về vị trí bị cắt ghép.

Tại Kết luận giám định của số 15/KLGĐ-PC45 ngày 07/02/2018 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: 02 thẻ đảng viên cùng số 85029950 cùng mang tên Trần Hoàng H1, đề cùng ngày 02/9/2008 là thẻ đảng viên giả.

Tại Kết luận giám định của số 1583/C09B ngày 10/3/2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- File âm thanh mẫu cần giám định “ghi âm tại chỗ công an.m4a” có 02 vị trí bị cắt.

- File âm thanh mẫu cần giám định “xã hội bây giờ lừa đảo nhiều quá.m4a" có 06 vị trí bị cắt.

- File lừa đảo.3gpp không phát hiện thấy có dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung.

Quá trình điều tra, Trần Hoàng H1 khai nhận 02 quyết định photocoppy số 1137/QĐ-K20P2 cùng ngày 24/11/2015 là do Nguyễn Thanh H làm. H cũng trực tiếp làm 06 quyết định số 1233/QĐ-E21-BCT ngày 01/02/2017 để đưa cho các bị hại, ngoài ra H còn đi photocoppy màu 02 thẻ đảng viên cho H1. H1 thừa nhận chiếm đoạt của 06 bị hại H, H3, T2, T3, T4N3 tổng cộng số tiền là 820.000.000 đồng.

7

Quá trình điều tra lại, Trần Hoàng H1 chỉ thừa nhận chiếm đoạt tiền của 04 bị hại gồm H3, T2, T3, T4 với tổng số tiền 498.000.000 đồng, vì H trừ tiền phí 2.000.000 đồng in hồ sơ lý lịch xin vào ngành Công an, mỗi hồ sơ lý lịch là 500.000 đồng, nên thực tế số tiền H1 chiếm đoạt 498.000.000 đồng. Trần Hoàng H1 không thừa nhận chiếm đoạt tiền của Nguyễn Thanh HHồ Thị Mỹ N3. H1 không thừa nhận làm giả các quyết định tuyển dụng để đưa cho các bị hại. H1 cho rằng các quyết định tuyển dụng giả do H tự làm và đưa cho các bị hại.

Đối với Nguyễn Thanh H, H không thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không thừa nhận hành vi làm giả các quyết định tuyển dụng. H nhận hồ sơ xin việc từng bị hại với giá 300.000.000 đồng/hồ sơ. Trong 300.000.000 đồng đã nhận thì 160.000.000 đồng H đưa cho H1, còn lại 140.000.000 đồng H giữ để chờ xét biên chế cho các bị hại, H không tiêu xài hay sử dụng đến số tiền này.

Đối với việc Trần Hoàng H1 sử dụng 02 thẻ đảng viên giả mang thế chấp để vay mượn 10.000.000 đồng của bà Mai Kim H4 và 20.000.000 đồng ông Lê Văn T6, có ghi giấy biên nhận mượn nợ. Cơ quan điều tra đã làm việc với ông T6 và bà H4 đã xác nhận cho H1 mượn tiền, H1 đã trả cho ông T6 được 6.000.000 đồng, hiện nay ông T6 không yêu cầu H1 phải trả số tiền nợ còn lại; bà H4 yêu cầu H1 trả lại số tiền 10.000.000 đồng. Do đó xác định đây là quan hệ vay mượn tiền, nên không xem xét H1 chiếm đoạt tiền của bà H4 và ông T6.

Đối với Trương Trường H3, bản thân H3 cũng là bị hại trong vụ án, khi nhận hồ sơ xin vào ngành Công an cho Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Minh T3 rồi giao lại Nguyễn Thanh H, Hải báo chi phí cao hơn 50.000.000 đồng/hồ sơ để hưởng chênh lệch. H3 không có thỏa thuận hay bàn bạc trước với H1H. Số tiền 100.000.000 đồng H3 hưởng chênh lệch đã trả lại cho Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Minh T3, nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C không xem xét xử lý đối với Trương Trường H3.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Hoàng H1 đã khắc phục cho Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Minh T3, Nguyễn Phúc T4, Hồ Thị Mỹ N3Trương Trường H3 số tiền 535.000.000 đồng, cộng với số tiền 285.000.000 đồng gia đình H1 nộp khắc phục, tổng cộng là 820.000.000 đồng.

Nguyễn Thanh H đã khắc phục trả cho Trương Trường H3, Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Minh T3, Nguyễn Phúc T4, Hồ Thị Mỹ N3 tổng số tiền 740.000.000 đồng.

Đến nay, các bị hại Nguyễn Thị Kiều T2, Phạm Minh T3 đã được khắc phục toàn bộ số tiền 710.000.000 đồng. Hồ Thị Mỹ N3 được khắc phục 220.000.000 đồng; Nguyễn Phúc T4 được khắc phục 220.000.000 đồng; Trương Trường H3 được khắc phục 225.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 32/CT-VKSCT-P1 ngày 01/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đã truy tố Trần Hoàng H1, Nguyễn Thanh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 267 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

8

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Hoàng H1, Nguyễn Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm b khoản 2 Điều 267; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 50; Điều 20; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng H1 09 (C1) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt bị cáo H1 phải chấp hành chung là 11 năm 06 tháng (Mười một năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2017.

  3. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm b khoản 2 Điều 267; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 50; Điều 20; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H 08 (T9) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt bị cáo H phải chấp hành chung là 10 năm 06 tháng (Mười năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 09/02/2024 bị cáo Nguyễn Thanh H kháng cáo kêu oan.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu gồm lời khai của bị cáo H1, của các bị hại; biên bản đối chất có đủ cơ sở xác định bị cáo H có vai trò đồng phạm giúp sức tích cực. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đối với bị cáo H là đúng pháp luật, không oan sai.

Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm như sau:

- Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về việc tham gia của Luật sư V cùng bào chữa cho 2 bị cáo H1H.

- Các Điều tra viên có dấu hiệu không vô tư khách quan trong quá trình điều tra; các bị cáo đã khiếu nại nhưng không được giải quyết.

- Bị cáo H không có bàn bạc với bị cáo H1; bị cáo H cũng chỉ vì tin tưởng những thông tin do bị cáo H1 đưa ra. Đề nghị xem lại tội danh đối với bị cáo HH5 bản án sơ thẩm để điều tra lại.

9

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Trong vụ án này, bản án sơ thẩm xác định các bị cáo Trần Hoàng H1Nguyễn Thanh H phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, theo đó bị cáo Nguyễn Thanh H được xác định vừa là bị hại trong hành vi lừa đảo của bị cáo H1, nhưng cũng vừa là đồng phạm giúp sức cho bị cáo H1 trong việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại ở các lần tứ hai, thử, thứ 4 và thứ 5. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Trần Hoàng H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo H không thừa nhận hành vi phạm tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục kháng cáo kêu oan.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án gồm: lời trình bày của các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các biên bản đối chất và lời khai của bị cáo H1 tại phiên tòa phúc thẩm, có đủ cơ sở xác định:

[1.1] Từ năm 2015, do làm ăn thua lỗ, không có tiền trả nợ, bị cáo Trần Hoàng H1 lợi dụng việc mình công tác trong ngành Công an, biết nhiều người có nhu cầu xin vào ngành nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền bằng cách đưa ra thông tin gian dối là Trung đoàn Cảnh sát cơ động T đang xây dựng bệnh xá có chỉ tiêu xét tuyển công dân vào lực lượng Công an nhân dân với các chuyên ngành y, dược, kế toán, công nghệ thông tin. Với thủ đoạn nhận hồ sơ, nhận tiền trước, H1 đã chiếm đoạt tiền của nhiều người.

Vụ đầu tiên, bị cáo H1 đã lừa dối H bằng cách hứa xin cho H vào Trung đoàn Cảnh sát cơ động T, sau thời gian tạm tuyển 06 tháng sẽ chính thức vào biên chế, chi phí là 160.000.000 đồng/hồ sơ, H đã đưa cho H1 70.000.000 đồng. Các vụ tiếp theo, từ tháng 4/2015 đến tháng 11/2015, bị cáo Nguyễn Thanh H là người liên lạc, trực tiếp gặp, trao đổi, hứa hẹn và nhận tiền của các bị hại để xin vào ngành Công an. Quá trình tiếp xúc với các bị hại, bị cáo H đã đưa ra nhiều thông tin gian dối làm cho các bị hại tin tưởng sẽ được tuyển vào ngành Công an nên đã nộp hồ sơ và giao tiền cho bị cáo H. H đã nói dối các bị hại chi phí xin vào ngành Công an mỗi người là 300.000.000 đồng, các bị hại Phạm Minh T3, Nguyễn Thị Kiều T2, Trương Trường H3, Nguyễn Phúc T4, Hồ Thị Mỹ N3 đã giao cho H tổng số tiền 1.540.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của các bị hại, bị cáo H đưa cho bị cáo H1 qua từng lần nhận tiền của các bị hại với tổng số tiền là 750.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo H chiếm đoạt.

10

Trong khi đó, thực tế Trung đoàn Cảnh sát cơ động T10 không có chỉ tiêu tuyển dụng, bản thân bị cáo H1 không có nhiệm vụ, điều kiện và trách nhiệm, quyền hạn để tiếp nhận hồ sơ của các bị hại để xét tuyển vào ngành Công an. Bản thân bị cáo H cũng không có thẩm quyền và điều kiện để tiếp nhận hồ sơ xét tuyển vào ngành Công an. Bị cáo H1 chỉ gặp trực tiếp và đưa ra thông tin gian dối hứa hẹn với bị cáo H; bị cáo H là người trực tiếp tiếp xúc, đưa ra thông tin gian dối, hứa hẹn và nhận tiền của 05 bị hại còn lại, nếu không có bị cáo H giúp sức tích cực thì bị cáo H1 không thể chiếm đoạt của các bị hại số tiền lớn (820.000.000 đồng, trong đó có 70.000.000 đồng của bị cáo H), bản thân bị cáo H cũng chiếm đoạt số tiền 790.000.000 đồng của các bị hại.

Đối với Bị cáo H không thừa nhận hành vi phạm tội, mà cho rằng số tiền bị cáo giữ lại của các bị hại là chờ đợi để xét biên chế và đưa bị cáo H1 khi các bị hại vào ngành Công an là hoàn toàn không phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong hồ sơ, mâu thuẫn với các lời khai của các bị hại cũng như lời khai của bị cáo H1 cùng các tình tiết chứng cứ khác, cụ thể: Qua các lời khai của những người bị hại đều xác nhận ngay từ đầu đều không biết bị cáo H1, việc tư vấn vào ngành Công an và số tiền phải nộp 300 triệu đồng cho một hồ sơ xin việc đều do bị cáo H đưa ra, và cũng chính bị cáo H là người trực tiếp nhận tiền của của 05 bị hại. Khi nhận tiền bị cáo H cũng không nói với các bị hại số tiền trên đưa cho bị cáo H1 160 triệu đồng, còn lại 140 triệu đồng thì bị cáo giữ lại để chờ khi nào xét biên chế xong thì đưa cho H1, điều này cũng đã chứng minh bị cáo đã gian dối để được nhận tiền của bị hại rồi giữ lại số tiền mỗi người 140 triệu đồng rồi chiếm đoạt. Hơn nữa, nếu như bị cáo không có ý thức chiếm đoạt tiền thì chắc chắn bị cáo sẽ đưa hết số tiền của bị hại cho bị cáo H1.

[1.2] Hành vi phạm tội của bị cáo H còn được thể hiện ở chỗ: Đến tháng 11/2016 khi vẫn chưa có quyết định tuyển dụng nên các bị hại hối thúc, bị cáo H đã dẫn các bị hại đến gặp bị cáo H1, bị cáo H1 đưa ra nhiều lý do bệnh xá xây chưa xong, lãnh đạo đi công tác, đơn vị bị cáo thanh tra. Bị cáo H1 và bị cáo H đều nói với các bị hại người nhận hồ sơ tên là Từ Huy C. Để các bị hại tin tưởng và kéo dài thời gian, bị cáo H1H đã bàn bạc làm giả 02 quyết định photocopy số 1137/QĐ-K20P2 ngày 24/11/2015 của Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động về việc tuyển dụng công dân vào ngành và lực lượng công an nhân dân, quyết định cho Trung đoàn Cảnh sát cơ động T10 tuyển dụng công dân vào lực lượng công an nhân dân, mỗi quyết định có tên 03 bị hại. Bị cáo H1 kêu H viết giấy cam kết mạo tên giả là Từ Huy C, cấp hàm đại úy cam kết trong thời gian 22 ngày từ ngày 03/01/2017 sẽ có quyết định gốc chính thức, có dấu đỏ để giao cho các bị hại. Đến tháng 02/2017, bị cáo H đưa cho các bị hại H3, T2, T3, T4N3 nhận các quyết định ghi số:

11

1233/QĐ-E21-BCT ngày 01/02/2017 của Trung đoàn Cảnh sát cơ động T10 về việc tiếp nhận và phân công công tác cán bộ có dấu tròn mộc đỏ ghi TĐCSCĐ Tây Nam Bộ do thượng tá Nguyễn Tấn P, chức vụ Trung đoàn trưởng ký. Các quyết định có nội dung giả trùng với số quyết định thăng cấp bậc hàm sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ của bị cáo H1 trong quá trình công tác tại Trung đoàn Cảnh sát cơ động T10.

Tại phiên tóa phúc thẩm, qua tiến hành đối chất thì bị cáo H1 đã trình bày và thừa nhận rằng đã có sự bàn bạc với bị cáo H trong việc đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tiền của những người bị hại; đồng thời có bàn bạc về việc làm giả các tài liệu để nhằm đối phó với những người bị hại.

[2] Với hành vi nêu trên của các bị cáo H1H cho thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ.

Bị cáo kháng cáo cho rằng không phạm tội là không có cơ sở.

[3] Hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính và hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được việc đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác và làm giả giấy tờ, tài liệu là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân, lười lao động muốn có tiền tiêu xài mà các bị cáo vẫn bất chấp hậu quả để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe, cải tạo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5] Quan điểm của Luật sư bào chữa là không phù hợp, nên không được chấp nhận.

[6] Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy bị cáo H phải chịu án phí phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

12

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm b khoản 2 Điều 267; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 50; Điều 20; Điều 33; Điều 20; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H 08 (T9) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt bị cáo H phải chấp hành chung là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2022.

    Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  3. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H nộp lại 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước.
  4. Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 đồng án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND Tp. Cần Thơ;
  • - VKSND Tp. Cần Thơ;
  • - Cục THADS Tp. Cần Thơ;
  • - Công an Tp. Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ;
  • - Trại tạm giam Tp. Cần Thơ
  • - Trại tạm giam Tp. Cần Thơ(Tống đạt cho bị cáo)
  • - Lưu: HS, VP, 18NThuy.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

13

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu

Nguyễn Thị Thanh

Phạm Công Mười

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 704/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 704/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần hoàng Huy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger