Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 703/2024/HS-PT

Ngày 29 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Ông Hồ Sỹ Hưng và ông Nguyễn Tất Nam.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 371/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 06/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị T, sinh ngày 23/6/1994 tại Phú Thọ; nơi ĐKHKTT: Khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: P, Tòa A, số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị T2; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2022 tại Trại Tạm giam số 2 - Công an thành phố H cho đến nay. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Ngô Thị Thu H - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h00 ngày 10/12/2022, Công an quận T, thành phố Hà Nội nhận được tin báo của nhân dân về việc anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1994, ĐKHKTT: Xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng chết chưa rõ nguyên nhân tại khu vực bể bơi KT2 Tòa A, Chung cư H, số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Quá trình rà soát, xác định, vị trí nạn nhân tử vong tương ứng với Căn hộ 403 Tòa A, Chung cư H, số B N, phường T.

Qua khám nghiệm hiện trường, tại Phòng 403 Tòa A, Chung cư H, phát hiện 01 dấu vết đường vân chân trên bệ bếp (sát cửa sổ). Ngoài ra còn thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng bị vỡ làm hai mảnh, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 VNĐ, 01 túi nilon zip, 02 túi nilon màu cam vỏ in chữ “Chali”, 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 VNĐ được quấn thành dạng tẩu, 01 túi zip nilon trong có ít tinh thể màu trắng và 02 vỏ nol bia Tiger. Thu giữ của Nguyễn Thị T 01 loa màu nâu và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng lắp sim số 0973389494.

Kết luận giám định số 8350A/KL-KTHS ngày 18/12/2022 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: 01 đĩa sứ màu trắng bị vỡ làm hai mảnh đều có dính ma túy loại Ketamine; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuốn thành ống hút đều dính ma túy loại Ketamine; 01 túi nilon zip có dính ma túy loại Ketamine; 02 túi nilon màu cam vỏ in chữ “Chali” đều có dính ma túy loại Ketamine, Methamphetamine, MDMA và Nimetazepam”.

Kết luận giám định pháp y số 1835/GĐTT-TTPY ngày 30/12/2022 của Trung tâm P - Sở P, kết luận nguyên nhân chết: “Nạn nhân Nguyễn Văn L tử vong do: Chấn thương ngực, bụng nặng”.

Ngày 07/8/2023, Trung tâm P cung cấp thông tin bổ sung về nguyên nhân chết của Nguyễn Văn L như sau: Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Văn L là do chấn thương ngực, bụng nặng (đa chấn thương). Còn việc mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Văn L giám định: Dương tính với M, MDMA, Ketamine và chất chuyển hóa của K là N; Mẫu nước tiểu của nạn nhân Nguyễn Văn L giám định: Dương tính với A, Methamphetamine, MDA, MDMA, Ketamine và chất chuyển hóa của Ketamine là Norketamine: Là nạn nhân đang có sử dụng các chất ma túy. Hiện qua giám định không ghi nhận được các dấu hiệu nghĩ đến tử vong do các chất ma túy trên gây nên.

Kết luận giám định số 399/KL-KTHS ngày 17/01/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: “01 dấu vết đường vân chân bám bẩn trên mặt đá kệ bếp sát cửa sổ P403 chung cư G, số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội, gửi giám định so với dấu in đường vân bàn chân phải trên mẫu vân chân của nạn nhân họ tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1994, HKTT: Xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng gửi làm mẫu so sánh là của cùng một người”.

Kết quả điều tra xác định được: Khoảng năm 2016, qua quan hệ xã hội, Nguyễn Thị T, Phạm Thị T3, sinh năm 1991, HKTT: xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Đặng Kiều A1, sinh năm 1989, HKTT: Số A Hồ N, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, Phạm Văn T4, sinh năm 1990, HKTT: Thôn G, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên và Bùi Đình V, sinh năm 1988, HKTT: xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình quen biết nhau. Cả nhóm thường tụ tập đi chơi và đã từng cùng nhau lên Bar sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 30/10/2022, Nguyễn Thị T thuê Phòng 403 Tòa A Chung cư G, số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội của ông Phương Kim T5, sinh năm 1960, HKTT: Xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương với giá thuê 12 triệu đồng/tháng và ở cùng em trai là Nguyễn Huy H1.

Ngày 08/12/2022, Phạm Thị T3 đến Phòng 403 Chung cư G của Nguyễn Thị T chơi và ngủ lại tại đây. Ngày 09/12/2022, Đặng Kiều A1 cũng đến Phòng 403 của T chơi và ngủ lại. Khoảng 10h30 ngày 10/12/2022, T3 có đi thang máy xuống siêu thị mua đồ, khi vào thang máy đi lên thì gặp Phạm Văn T4 và Nguyễn Văn L đến nhà T chơi. Sau đó cả ba cùng lên Phòng P403 của T. Lên đến căn hộ, T3 dọn dẹp quần áo đi về trước. Tại khu vực phòng khách, L bóc 01 túi giấy màu trắng chứa ma túy bao gồm “nước vui”, Ketamine và thuốc lắc, sau đó một mình L đi vào khu vực gian bếp pha chế ma túy. L lấy ma túy “nước vui” pha với nước ngọt R, còn số Ketamine, L hâm nóng đĩa sứ và cho K vào đĩa xào. Một lúc sau, L bê vào phòng ngủ của T 01 bát “nước vui” là dung dịch nước màu vàng, trong bát có 01 thìa inox và 01 đĩa sứ chứa Ketamine, bên trong có 01 thẻ cứng và 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền cuộn tròn. Vào phòng ngủ có T, T4, Kiều A1, thì L múc cho mọi người trong phòng 2-3 thìa “nước vui” và cùng nghe nhạc. Khoảng 14h ngày 10/12/2022, T4 gọi điện cho V trao đổi công việc, qua nói chuyện, L và T có nói vọng vào điện thoại bảo V đến nhà T sử dụng ma túy. Sau đó, T có gọi điện và nhắn tin qua ứng dụng Z bảo V đến địa chỉ P Chung cư G. Khoảng 14h40' cùng ngày, V đến địa chỉ B N thì có L xuống sảnh chung cư đón V. Vào đến căn hộ D, V, L đi vào phòng ngủ của T thấy T4, T và Kiều Al đang ở trong phòng. Lúc này, trong phòng đang mở nhạc mạnh, có đèn nhấp nháy, trên mặt ghế trang điểm có 01 bát “nước vui”. Bên cạnh là 01 đĩa Ketamine, bên trong đĩa có 01 thẻ nhựa, 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền cuộn tròn. Sau đó, L múc cho V 2-3 thìa “nước vui”. Một lúc sau, T múc cho V 03 thìa “nước vui” và cả nhóm đứng lên nhảy theo nhạc mạnh. Khoảng 16h45', T4 có việc về trước, V, Kiều Al nằm nghỉ trên giường ngủ của T. Khoảng 18h30', T thấy L đang ngồi ở phòng khách xem kết quả xổ số, T đi vào phòng ngủ thì thấy V, Kiều A1 đang ngồi nói chuyện. Khoảng 5 phút sau, T quay ra ngoài phòng khách thì không thấy L, T gọi điện thoại cho L thì thấy điện thoại để trong phòng ngủ nên nghĩ L đi ra ngoài có việc. Khoảng 20h, T4 đi xe ô tô đến sảnh chung cư đón T, V đi B. Khoảng 02h sáng ngày 11/12/2022, T4, V đi về văn phòng của Công ty còn T đi ngủ tại khách sạn.

Khoảng 20h ngày 10/12/2022, cơ quan Công an nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân về việc Nguyễn Văn L ngã chết tại khu vực bể bơi KT2 Tòa A Chung cư G. Ngày 11/12/2022, cơ quan Công an đã triệu tập các đối tượng liên quan lên làm việc để làm rõ nguyên nhân chết của Nguyễn Văn L.

Phạm Thị T3 khai: Ngày 08/12/2022, T3 đến Phòng 403 Chung cư G của T chơi và ngủ lại qua đêm. Khoảng 10h30' ngày 10/12/2022, T3 đi xuống dưới mua đồ thì gặp T4 và L, rồi cả ba cùng lên Phòng 403 của T. Khi lên đến nơi, T3 dọn dẹp quần áo đi về trước. Trong lúc đi cùng thang máy với T4, L lên căn hộ của T, T3 không thấy T4, L nói chuyện gì liên quan đến ma túy và cũng không biết ai đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ P403 của T.

Đặng Kiều A1 khai: Ngày 09/12/2022, T3 đến Phòng 403 của T chơi và ngủ lại qua đêm. Khoảng 12h ngày 10/12/2022, Kiều A1 gặp T4, L vào Phòng 403 của T cùng T3. Vào đến phòng ngủ của T, Kiều Al thấy 01 bát “nước vui” và thuốc lắc để trên ghế trang điểm. Lúc này, có T4, T, L đều đang uống “nước vui”, Kiều A1 tự tay sử dụng 1-2 thìa “nước vui” và nửa viên thuốc lắc. Do phê ma túy, Kiều A1 nằm ở giường nghe nhạc. Kiều A1 không rõ ai là người mang ma túy vào phòng, pha chế ma túy và không góp tiền hay bàn bạc việc tổ chức sử dụng ma túy.

Phạm Văn T4 khai: Khoảng 12h ngày 10/12/2022, T4, L đến nhà T chơi. Khi đến sảnh chung cư G thì gặp Phạm Thị T3, sau đó cả ba cùng đi lên phòng của T. Lên tới Phòng 403 thì T3 có việc nên về luôn. Sau đó, T4 thấy L đến khu vực gian bếp của T pha chế đồ (sau này L nói thì T4 mới biết là pha chế “nước vui”). T4 vào phòng ngủ của T trao đổi công việc với V, thì có T, L có nói vọng vào rủ V đến nhà T chơi. Sau đó, T4 thấy L bê vào phòng ngủ 01 bát “nước vui” mời mọi người sử dụng. L múc cho T4 3-5 thìa “nước vui”, lúc này trong phòng có tiếng nhạc mạnh, T4 phê ma túy nằm ở giường. Khoảng 14h cùng ngày, V đến phòng T, Lâm múc cho V 2-3 thìa “nước vui”. Đến khoảng 16h, T4 về trước, T4 không bàn bạc hay góp tiền mua ma túy, chỉ biết L là người pha chế ma túy và bê bát “nước vui” vào phòng ngủ của T.

Bùi Đình V khai: Khoảng 14h ngày 10/12/2022, V đang làm việc tại công trường thì T4 gọi điện trao đổi công việc. Qua nói chuyện, V nghe thấy giọng của L, T nói vọng vào điện thoại bảo V đến nhà T sử dụng ma túy. Sau đó, T gọi điện và nhắn tin qua ứng dụng Z bảo V đến địa chỉ P Chung cư G. Khoảng 14h40', L xuống đón V, khi vào phòng, V thấy T4, T và Kiều A1 đang ở trong phòng mở nhạc mạnh, có đèn nhấp nháy, trên mặt ghế trang điểm có 01 bát “nước vui” và 01 đĩa Ketamine. Sau đó, L có múc cho vinh 2-3 thìa “nước vui”. Một lúc sau, T múc cho V 03 thìa “nước vui”. Khoảng 16h45', T4 có việc đi về trước còn V nằm ngủ ở giường cùng Kiều A1. Khoảng 18h30', T vào phòng hỏi tìm L nhưng V không biết. Khoảng 20h, T4 gọi điện rủ lên B chơi. Khoảng 21h, V, T được T4 đón đi B. Khoảng 02h sáng ngày 11/12/2022, T4 chở V về Văn phòng của Công ty, còn T đi đâu thì V không rõ. Bản thân V không bàn bạc hay góp tiền mua ma túy, không rõ ai đã mang ma túy đến căn hộ của T.

Như vậy, Nguyễn Thị T là người thuê, quản lý căn hộ P403 Tòa A Chung cư G số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. T chứng kiến việc L lấy ma túy gồm “nước vui”, Ketamine và thuốc lắc trong 01 túi giấy màu trắng, sau đó pha chế ma túy tại gian bếp nhưng không ngăn cản L. Khi Lâm bê bát “nước vui” vào phòng ngủ của T cho mọi người sử dụng thì T cũng cùng sử dụng. Ngoài ra, T còn rủ và trực tiếp múc 03 thìa “nước vui” cho V uống. Do đó, có đủ cở sở để kết luận T đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với các đối tượng Phạm Văn T4, Bùi Đình V, Phạm Thị T3, Đặng Kiều A1 đều khai không bàn bạc, góp tiền mua ma túy để sử dụng tại căn hộ P của T và cũng không rõ nguyên nhân Nguyễn Văn L tử vong. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với T4, V, T3 và Kiều Al về tội “Tổ chức trái phép chất ma túy”. Ngày 25/5/2023, Công an quận T, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn T4, Bùi Đình V và Đặng Kiều Al về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Nguyễn Huy H1 (em trai Nguyễn Thị T): H1 khai khoảng 18h30' ngày 10/12/2022, khi đi làm về và đi thẳng vào phòng riêng của H1 nên không biết có những ai đến phòng ngủ của T. H1 cũng không biết việc T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của T nên không đề cập xử lý.

Ông Phương Kim T5 (là chủ căn hộ P403 tòa A Chung cư G) trình bày: Ngày 30/10/2022, ông cho Nguyễn Thị T thuê căn hộ P403 với giá thuê là 12 triệu đồng/tháng, khi thuê có hợp đồng thuê nhà. Ông không biết việc T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong căn hộ nên không đề cập xử lý.

Đối với Nguyễn Văn L là đối tượng mang ma túy đến Phòng 403 và cung cấp ma túy cho T và các đối tượng khác sử dụng, do đó đủ căn cứ xác định L có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, do Nguyễn Văn L đã tử vong nên không đề cập xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 06/02/2024 của Tòa án nhân dân thảnh phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 15/02/2024, bị cáo Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh rất khó khăn, hiện chưa có chồng, nhất thời phạm tội; quá trình điều tra đã tích cực hợp tác trong việc phát hiện tội phạm; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thêm một số tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng thêm điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, từ đó áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo từ 02 đến 03 năm tù nhằm giúp bị cáo sớm có cơ hội cải tạo tốt trở về làm người lương thiện. Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của Luật sư, rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[2.1] Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bởi lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/12/2022, tại P Tòa A, do Nguyễn Thị T thuê để ở, địa chỉ số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Khi Nguyễn Văn L đến nhà T, mang theo ma túy để pha chế “nước vui” cho cả nhóm cùng sử dụng gồm Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị T, Phạm Văn T4, Bùi Đình V và Đặng Kiều A1. Bị cáo Nguyễn Thị T đã cung cấp địa điểm cho các đối tượng trên sử dụng ma túy ngay tại phòng do bị cáo trực tiếp quản lý, sử dụng. Ngoài việc bị cáo T trực tiếp sử dụng ma túy cùng các đối tượng trên, trong lúc T4 gọi điện cho V để trao đổi công việc, T và L đã nói vọng vào qua điện thoại của T4 bảo V đến nhà T để sử dụng ma túy. Tiếp sau đó, T còn gọi điện và nhắn tin qua ứng dụng Z bảo V đến địa chỉ nhà T tại Phòng 403 nêu trên để sử dụng ma túy. Đến khoảng 14h40' cùng ngày, V có mặt tại Phòng 403 và đi vào phòng ngủ của T thì thấy T4, T và Kiều Al đang ở trong phòng, mở nhạc mạnh, có đèn nhấp nháy; trên mặt ghế trang điểm có 01 bát “nước vui”, bên cạnh là 01 đĩa Ketamine, bên trong đĩa có 01 thẻ nhựa, 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền cuộn tròn. Sau khi V vào phòng, Lâm múc cho V 2-3 thìa “nước vui”. Tiếp đó, T đã trực tiếp múc cho V 03 thìa “nước vui” rồi cả nhóm đứng lên nhảy theo nhạc mạnh. Hậu quả, sau khi sử dụng chất ma túy, L đi ra bệ cửa sổ của Phòng 403 và bị ngã xuống dưới, làm Nguyễn Văn L bị chết tại khu vực bể bơi KT2 của Tòa A Chung cư H.

Việc bị cáo Nguyễn Thị T dùng địa điểm nhà do bị cáo quản lý để tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy, dẫn đến anh Nguyễn Văn L sau khi sử dụng đã đi ra bệ cửa sổ của Phòng 403 rồi bị ngã xuống dưới khu vực bể bơi KT2 của Tòa A Chung cư H, làm Nguyễn Văn L tử vong. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người, tiếp tay cho các đối tượng tổ chức sử dụng và sử dụng trái phép chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong nhân dân. Do vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng chống các loại tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng.

[2.3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu nên không phải chịu tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo có xuất trình thêm một số tài liệu mới gồm các bản Ghi nhận tấm lòng vàng của Nguyễn Thị T, Giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình, Biên lai thu tiền án phí sơ thẩm; ngoài ra còn xuất trình các tài liệu chứng minh mẹ bị cáo là bà Bùi Thị T2 là đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, có ông bà nội tham gia dân công hỏa tuyến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc Luật sư đề nghị áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ, đúng pháp luật, không nặng.

[2.4] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã xuất trình thêm được một số tài liệu là tình tiết giảm nhẹ mới nhưng chỉ được xác định là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự theo đề nghị của Luật sư. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[2.5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[2.6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

    Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 15 (mười lăm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 12 năm 2022.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đồng.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Trại Tạm giam số 2 CA TP Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ;
  • - Bị cáo (qua trại);
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 703/2024/HS-PT ngày 29/08/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 703/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger