|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 703/2024/DSST
Ngày: 16 - 8 - 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Mai.
- Bà Trần Thị Mai Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 479/2022/TLST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2024/QĐXXST – DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 274/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Số E đường K, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1998 và bà Đặng Thị T1, sinh năm 1999, cùng địa chỉ: Số A đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bạch T2 – Luật sư Công ty L. (có mặt)
-
Bị đơn: Bà Trương Thị D, sinh năm 1992. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số F đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Thanh D1, sinh năm 1965. (có đơn xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1990. (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số A đường P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của bà Võ Thị T và trong quá trình xét xử, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn K và bà Đặng Thị T1 trình bày:
Bà Võ Thị T là chủ sở hữu hợp pháp đối với nhà đất tọa lạc tại địa chỉ số G Đường số A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 121 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 162921, số vào sổ cấp GCN: CH 05702 do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16 tháng 10 năm 2014.
Nguồn gốc căn nhà tại địa chỉ số G Đường số A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là bà T mua của bà Trần Thị B (mẹ của bà Trần Thị Thanh D1). Sau khi mua căn nhà trên, chưa có nhu cầu sử dụng nên bà T có cho bà D1 và con bà D1 là bà Nguyễn Thị Thanh T3 ở nhờ để trông nhà.
Ngày 12/11/2021, bà Võ Thị T và bà Trương Thị Diệu K1 chuyển nhượng nhà đất trên theo Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 022056, quyển số: 11/2021 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Hai bên thỏa thuận giá mua bán căn nhà là 2.250.000.000 (Hai tỷ hai trăm năm mươi triệu), nhưng bà D muốn ghi giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng để bà đóng tiền thuế ít. Tuy nhiên, kể từ khi nhận chuyển nhượng nhà đất nêu trên cho đến nay bà Trương Thị D vẫn chưa thanh toán tiền cho bà Võ Thị T số tiền là 2.250.000.000 (Hai tỷ hai trăm năm mươi triệu) đồng như đã thỏa thuận. Nhưng do hai bên chỉ thỏa thuận miệng nên bà T không có chứng cứ để đòi bà D 2.250.000.000 (Hai tỷ hai trăm năm mươi triệu) đồng nên bà T khởi kiện yêu cầu:
-
+ Yêu cầu bà Trương Thị D phải thanh toán cho bà Võ Thị T số tiền chuyển nhượng nhà đất là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng. Yêu cầu trả làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
-
+ Yêu cầu bà Trương Thị Diệu P chịu lãi suất chậm trả tính từ ngày 14/12/2021 đến ngày 16/8/2024 là 267.397.260 triệu (lãi suất là 10%/năm). Lý do bà yêu cầu trả lãi vì bà D đã nhận nhà và ngày 14/12/2021 bà D đã bán nhà cho người khác.
- Theo Bản tự khai và Biên bản hòa giải tại Tòa, bị đơn bà Trương Thị D trình bày:
Bà xác nhận có ký hợp đồng chuyển nhượng và bà chưa trả như bà Võ Thị T trình bày, tuy nhiên nội dung vụ việc như sau:
Vào năm 2021, bà Nguyễn Thị Thanh T3 là con gái của bà Trần Thị Thanh D1 có đến gặp bà để hỏi vay tiền của bà và nhờ bà tất toán khoản vay do em trai của bà D1 vay của ngân hàng và đang thế chấp căn nhà cho ngân hàng. Sau khi bà Nguyễn Thị Thanh T3 vay số tiền 350.000.000 (Ba trăm năm mươi triệu) đồng thì bà Nguyễn Thị Thanh T3 bỏ trốn vì không có tiền trả cho bà, bà Trần Thị Thanh D1 đã đồng ý cấn trừ nhà qua cho bà. Bà Trần Thị Thanh D1 yêu cầu bà phải trả thêm số tiền 850.000.000 (T4 trăm năm mươi triệu) đồng cho bà Trần Thị Thanh D1 thì bà D1 sẽ bán và giao nhà cho bà. Trị giá căn nhà là 1.200.000.000 (Một tỷ hai trăm triệu) đồng, căn nhà nêu trên bà Trần Thị Thanh D1 và bà Nguyễn Thị Thanh T3 đang ở.
Lý do nhà đứng tên bà Võ Thị T nhưng bà lại giao tiền cho bà Trần Thị Thanh D1 là vì căn nhà này thực tế là của bà D1 chứ không phải của bà T, vì em trai của bà Trần Thị Thanh D1 có vay tiền của bà Võ Thị T và không trả nợ được cho bà Võ Thị T nên gia đình bà Trần Thị Thanh D1 phải sang tên căn nhà trên cho bà Võ Thị T. Bà Võ Thị T đã đứng ra vay ngân hàng để cấn trừ nợ cho em trai bà Trần Thị Thanh D1, bà không biết tên và địa chỉ của em trai bà Trần Thị Thanh D1. Căn nhà trên thực tế là của bà Trần Thị Thanh D1, nên khi mua bán nhà thì bà chỉ giao dịch về mặt giấy tờ với bà Võ Thị T nhưng thực tế giao tiền cho bà Trần Thị Thanh D1 và bà Nguyễn Thị Thanh T3 (cấn trừ số tiền 350.000.000 đồng bà Nguyễn Thị Thanh T3 vay) vì bà Trần Thị Thanh D1 là chủ sở hữu của căn nhà. Do đó, bà chỉ có biên bản giao nhận tiền giữa bà và bà Trần Thị Thanh D1. Còn đối với bà Nguyễn Thị Thanh T3 là giấy vay số tiền 350.000.000 đồng.
Do căn nhà thực tế của bà Trần Thị Thanh D1 nên việc mua bán nhà giữa bà với bà T đã hoàn tất, bà đã giao đủ tiền cho bà Trần Thị Thanh D1 nên bà Trần Thị Thanh D1 mới giao nhà cho bà. Sau khi bà Trần Thị Thanh D1 giao nhà thì bà đã sửa chữa nhà và bà đã chuyển nhượng cho bên thứ ba. Do đó, bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh D1 trình bày (theo Văn bản trình bày ý kiến ngày 12/01/2024):
Căn nhà tại địa chỉ số G Đường số A, Phường A, quận G trước đây là của mẹ bà là bà Trần Thị B chuyển nhượng cho bà Võ Thị T. Sau khi mua nhà bà T cho bà và con bà là Nguyễn Thị Thanh T3 ở nhờ. Biết bà T có nhu cầu bán nhà nên con bà Nguyễn Thị Thanh T3 đã giới thiệu bà Trương Thị Diệu M nhà. Sau khi giao dịch mua bán nhà thành công thì bà D có trả tiền môi giới cho bà T3, bà D nói với mẹ con bà cứ tiếp tục ở vì bà mua nhà lướt sóng để bán kiếm lời, khi bà D báo có khách mua nhà thì mẹ con bà chuyển nhà để giao nhà cho khách thì mẹ con bà dọn chuyển đi. Sau này thì bà được biết bà D chưa thanh toán tiền mua nhà cho bà T. Bà hoàn toàn không nhận tiền bán nhà căn nhà trên từ bà D vì bà không phải là chủ nhà. Bà hoàn toàn không vay tiền bà D. Trong vụ án tranh chấp giữa bà T và bà D thì bà hoàn toàn không liên quan.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T3 trình bày (theo Văn bản trình bày ý kiến ngày 12/01/2024):
Bà thống nhất với phần trình bày của bà D1 đối với việc giao dịch mua bán nhà tại địa chỉ số G Đường số A, Phường A, quận G giữa bà T với bà D. Bà là người môi giới mua bán nhà giữa bà T với bà D, bà D là người trả tiền môi giới cho bà. Lý do bà D là người trả tiền môi giới vì bà T cho mẹ con bà ở nhờ nhà không lấy tiền, do đó bà D trả tiền môi giới cho bà. Giữa bà và bà D không có việc giao nhận tiền mua bán nhà, đồng thời bà cũng không liên quan gì đến giao dịch mua bán nhà giữa bà T và bà D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà Trương Thị D thanh toán số tiền chuyển nhượng nhà đất thuộc thửa đất số 130 địa chỉ số G Đường số A, Phường A, quận G là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tạm tính từ ngày 14/12/2021 đến ngày 16/8/2024 là 267.397.260 đồng (lãi suất 10%/năm) trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 022056, quyển số 11/2021 TP/SCC/HĐGD ngày 12/11/2021 giữa bà Võ Thị T (bên bán, chuyển nhượng) và bà Trương Thị D (bên mua, nhận chuyển nhượng) đối với nhà đất thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 121 tại địa chỉ G Đường số A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX162921 do UBND quận G cấp ngày 16/10/2014, số vào sổ cấp GCN: CH05702. Hai bên thông nhất giá mua bán, chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết và tại biên bản đối chất ngày 13/11/2023, bị đơn bà Trương Thị D xác nhận có ký Hợp đồng nhận chuyển nhượng nhà đất số G Đường số A, Phường A, quận G của bà Võ Thị T với giá nhận chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng như lời trình bày của bà T. Bà D xác nhận không giao tiền chuyển nhượng trên cho bà T mà giao tiền cho bà D1 để cấn trừ nợ của bà T3 (con của bà D1) vay nợ của bà T. Tuy nhiên, bà T khai giữa bà và bà D1 không có quan hệ vay mượn tiền gì cả, bà T cho gia đình bà D1 ở nhờ. Như vậy, có cơ sở xác định giao dịch mua bán, chuyển nhượng nhà đất tại số G Đường số A, Phường A, quận G giữa bà Võ Thị T và bà Trương Thị D là có thật.
Về hình thức thanh toán, bà D xác nhận không giao tiền cho bà T mà giao tiền cho bà D1 nên việc bà T khởi kiện yêu cầu bà D phải thanh toán tiền mua nhà đất tại số G Đường số A, Phường A, quận G theo Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12/11/2021 số tiền chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu tính lãi phát sinh tính từ ngày 14/12/2021 (là ngày bà D chuyển nhượng nhà đất trên cho người thứ ba) đến ngày 16/8/2024 với lãi suất 10%/năm, số tiền là 267.397.260 đồng. Xét thấy, sau khi chuyển nhượng cho người khác xong, bà D vẫn không thanh toán tiền cho bà T là đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà T. Mức lãi xuất phát sinh phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015, do đó yêu cầu của bà T về việc bà D phải chịu tiền lãi chậm trả là có cơ sở chấp nhận.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị T. Buộc bà Trương Thị D có trách nhiệm thanh toán cho bà Võ Thị T tiền mua bán, chuyển nhượng nhà đất tại số G đường số A, Phường A, quận G theo Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đương công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12/11/2021 số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng và tiền lãi phát sinh 267.397.260 đồng.
Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Võ Thị T khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị D phải trả lại tiền mua bán nhà đất, bị đơn bà Trương Thị Diệu cư T5 tại quận G, bất động sản tranh chấp tọa lạc tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở”, việc giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Trương Thị D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Thanh D1 và Nguyễn Thị Thanh T3 vắng mặt có đơn xin vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1 Về yêu cầu buộc bà Trương Thị D phải trả số tiền mua nhà còn thiếu là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 022056, quyển số 11/2021 TP/SCC/HĐGD ngày 12/11/2021 giữa bà Võ Thị T (bên bán, chuyển nhượng) và bà Trương Thị D (bên mua, nhận chuyển nhượng) đối với nhà đất thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 121 tại địa chỉ G Đường số A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX162921 do UBND quận G cấp ngày 16/10/2014, số vào sổ cấp GCN: CH05702. Thể hiện hai bên có giao dịch mua bán căn nhà trên.
Căn cứ lời khai của nguyên đơn thể hiện bà Trương Thị D chưa giao tiền cho bà Võ Thị T theo hợp đồng mua bán trên. Theo đơn khởi kiện bà yêu cầu trả số tiền 2.250.000.000 (Hai tỷ hai trăm năm mươi triệu) đồng, (đây là số tiền thỏa thuận thực tế mua bán nhà đất) nhưng bà không có chứng cứ chứng minh nên bà thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà D phải trả số tiền 1.000.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 2.1 của Hợp đồng mua bán trên thể hiện: Giá mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 1.000.000.000 đồng, bà D xác nhận bà không giao tiền trực tiếp cho bà T nên bà D phải có trách nhiệm giao số tiền mua nhà theo quy định của hợp đồng.
Căn cứ khoản 3 Điều 434 Bộ luật Dân sự quy định: “Bên mua thanh toán tiền mua theo thời gian thỏa thuận. Nếu không xác định hoặc xác định không rõ ràng thời gian thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay tại thời nhận tài sản mua hoặc nhận giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản”.
Bị đơn bà D trình bày bà xác nhận chưa giao tiền cho bà T mà bà giao nhà cho bà D1 vì bà D1 là người đang ở trên căn nhà này và bà D1 trước đây là chủ của căn nhà nên bà chỉ giao dịch về mặt giấy tờ với bà T còn tiền thì bà giao cho bà D1 và bà T3 là con gái bà D1.
Xét thấy, lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ để chấp nhận, vì bà T là chủ sở hữu căn nhà theo giấy chứng nhận đăng ký được cơ quan nhà nước công nhận. Bà T không ủy quyền cho bà D1 giao dịch mua bán hay nhận tiền bán căn nhà cho bà. Mặt khác, bà D cho rằng bà giao tiền cho bà T3 và bà D1 nhưng theo giấy giao tiền cho bà T3 số tiền 140.000.000 đồng không phải là giấy giao tiền mua nhà mà là giấy vay tiền, có nội dung: “tôi có vay của bà Trương Thị Diệu S tiền 140.000.000 đồng”; giấy giao tiền cho bà D1 số tiền 850.000.000 đồng cũng không phải là giao tiền mua nhà mà là giấy vay tiền, có nội dung: “Tôi có vay của bà Trương Thị Diệu S tiền 850.000.000 đồng”. Như vậy, cho thấy lời trình bày của bà D không có cơ sở, mà thể hiện bà D mua nhà của bà T nhưng bà D chưa giao tiền cho bà T.
Từ nhận định trên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà T buộc bà D phải trả bà T số tiền mua căn nhà số nhà S Đường số A, Phường A, quận G là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
3.2 Đối với yêu cầu tính lãi suất từ ngày 14/12/2021 đến ngày 16/8/2024 số tiền là 267.397.260 triệu (lãi suất là 10%/năm), Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ khoản 3 Điều 440 của Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này”.
Căn cứ khoản 2 Điều 357 quy định: “Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật này”.
Căn cứ khoản 2 Điều 468 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định được lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Như vậy, mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu là 10% là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với thời gian tính lãi từ ngày 14/12/2021 (ngày Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận G cập nhật chuyển nhượng từ bà D cho bên thứ ba) đến ngày xét xử.
Căn cứ khoản 3 Điều 434 Bộ luật Dân sự quy định: “Bên mua thanh toán tiền mua theo thời gian thỏa thuận. Nếu không xác định hoặc xác định không rõ ràng thời gian thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay tại thời nhận tài sản mua hoặc nhận giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản”.
Nguyên đơn không xác định được ngày giao nhà nên yêu cầu tính lãi từ ngày cập nhật thông tin trên giấy chủ quyền về việc bà D chuyển nhượng cho bên thứ ba là phù hợp với quy định của pháp luật.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi số tiền 267.397.260 (hai trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm chín mươi bảy ngàn hai trăm sáu mươi) đồng là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ để chấp nhận.
[4] Về án phí:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu của bà T được chấp nhận nên bà D phải đóng án phí là 50.021.918 (năm mươi triệu không trăm hai mươi mốt ngàn chín trăm mười tám) đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
-
- Căn cứ các Điều 357, 430, 431, 433, 434, 440, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
-
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;
-
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị T.
Buộc bà Trương Thị D phải trả cho bà Võ Thị T số tiền 1.267.397.260 (một tỷ hai trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm chín mươi bảy ngàn hai trăm sáu mươi) đồng, trong đó tiền mua nhà là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, tiền lãi do chậm thanh toán là 267.397.260 (hai trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm chín mươi bảy ngàn hai trăm sáu mươi) đồng, trả ngay một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị Diệu P chịu án phí dân sự sơ thẩm là 50.021.918 (năm mươi triệu không trăm hai mươi mốt ngàn chín trăm mười tám) đồng, thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
-
Về quyền kháng cáo: Bà T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà D, bà T3, bà D1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
-
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Loan |
Bản án số 703/2024/DSST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở
- Số bản án: 703/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
