|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 703/2024/DSPT Ngày: 14/8/2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Thẩm phán: Ông Phan Báu
Bà Nguyễn Thị Ngọc Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Khương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 476/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 204/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3331/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10126/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1953; địa chỉ: I (số cũ: 958/12/16/34) L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm: 1979; địa chỉ: I L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy ủy quyền ngày 22/3/2022 tại Phòng C (có mặt).
Bị đơn: Ông Đào Văn P, sinh năm 1964; địa chỉ: I L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đồng Anh T, sinh năm 1973; địa chỉ: F Đ, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy ủy quyền ngày 08/9/2017 tại Văn phòng C1 (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1964; địa chỉ: I L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Đồng Anh T, sinh năm 1973; địa chỉ: F Đ, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền ngày 08/9/2017 tại Văn phòng C1).
2. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1952 (chết ngày 16/11/2021).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N:
- - Bà Lê Thị M, sinh năm 1953
- - Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1979
- - Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1977
- - Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1985
Cùng địa chỉ: I L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bà Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1981; địa chỉ: A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N: Bà Nguyễn Thị Thanh H (theo giấy ủy quyền ngày 22/3/2022).
Người kháng cáo: Bà Lê Thị M và bà Nguyễn Thị Thanh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị M có người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Phương T2, bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Bà Lê Thị M và ông Nguyễn Văn N là chủ sở hữu nhà và đất tại địa chỉ I L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00519 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 17/02/2011. Theo nội dung giấy chứng nhận này thì diện tích đất của bà M và ông N là 38,60 m². Ngày 14/10/2015, nhà bà M và ông N được cấp giấy phép xây dựng với diện tích xây dựng là 38,17 m². Tuy nhiên, khi xây dựng xong thì diện tích thực tế là 4,2m x 8,5m = 35,7m², đất đã xây còn thiếu so với diện tích trong sổ hồng là: 38,6m² - 35,7m² = 2,9m²; thiếu đất so với giấy phép xây dựng là 38,17m² - 35,7m² = 2,47m². Phần diện tích đất còn dư này ông Đào Văn P đã lấn chiếm xây dựng bức tường lấn qua đất của bà M và đặt hệ thống điện nước làm nhà bà M không tô trét được hết các bức tường, đường ống nước bị rò rỉ làm ảnh hưởng chất lượng công trình nhà bà M. Do vậy, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông P tháo dỡ việc lấn chiếm và xây dựng trái phép trên, tháo ống nước và di dời máy bơm nước, đồng hồ điện để trả lại diện tích đất 2,72m² mà ông P đang lấn chiếm cho gia đình bà. Theo bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 25/3/2017 thì diện tích sử dụng là 37,40 m² còn thiếu 1,20 m² so với diện tích thực tế. Trong đơn khởi kiện và biên bản làm việc tại
Tòa án trước đây, do chưa đo đạc chính xác nên bà M yêu cầu ông P phải trả lại 2,9m² đất là chưa chính xác. Nay sau khi có bản vẽ thực trạng thì bà M yêu cầu ông P phải trả lại 1,2m² là phần đất tiếp giáp giữa 02 nhà. Cụ thể: Yêu cầu trả diện tích đất ngang 0,22m, chiều dài 5,45m. Phần diện tích này hiện ông P đang sử dụng để đồng hồ điện, nước của nhà ông P.
Bị đơn, ông Đào Văn P có người đại diện theo ủy quyền là ông Đồng Anh T trình bày:
Phần đất mà ông P đặt hệ thống nước, đồng hồ điện, máy bơm là thuộc quyền sở hữu của gia đình ông P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 3647/UB GCN do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 26/9/2009. Theo giấy chứng nhận này, diện tích đất của gia đình ông P là 53,30m². Sau khi xây dựng lại nhà vào năm 2014, ông P xin cấp lại giấy chứng nhận và diện tích đất theo giấy chứng nhận được Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 29/6/2015 là 49,6m². Thực tế từ trước tới nay diện tích đất ông P được sử dụng là 53,30m² nhưng chỉ xây dựng diện tích 49,6m² là vẫn còn dư ra 3.30m². Phần diện tích dư này ông P đã đặt đồng hồ nước, đồng hồ điện và đây là diện tích mà phía bà M đang tranh chấp vì cho là đất thuộc quyền sử dụng của bà M và thực tế phần đất này cũng chưa đủ 3.30m². Vào năm 2015 gia đình bà M xây 2 tủ âm qua phần đất trống giữa hai nhà và xây sát vào tường nhà ông, ông có làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân phường H2 giải quyết và Uỷ ban nhân dân phường yêu cầu bà M đập 2 tủ âm của nhà bà M xây lấn chiếm qua phần đất này. Tại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 29/6/2015 với diện tích đất 49.6m² là chưa đúng với thực tế và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp năm 2009 là 53,30m². Phần diện tích nhà đất ông P mua của người khác từ năm 1993, chỉ ước chừng chứ không đo cụ thể, đến năm 2009 khi được cấp giấy chủ quyền đo lại là 53.30m², ông P vẫn đóng thuế đầy đủ cho nhà nước, đến năm 2013 ông P xin phép xây dựng lại. Do phần diện tích đất không vuông vức nên ông P xây dựng chỉ 3,15m ngang phía trước và phía sau là 5,20m ngang (với suy nghĩ để nhà "nở hậu"). Phần đất dư còn lại phía trước là 0,3m mặt ngang phía trước và chạy xéo xuống phía sau ông P vẫn để và gần đồng hồ điện, nước. Khi hoàn công và làm giấy chủ quyền mới thì giấy chứng nhận cấp cho ông P có diện tích nhỏ hơn là 49,6m, việc sai số này ông P cũng không để ý, hiện ông P đang đo vẽ hiện trạng thực tế xin các cơ quan thẩm quyền để xem xét lại phần diện tích thiếu này. Vì vậy nguyên đơn cho rằng phần đất này là của nguyên đơn thì ông P không đồng ý vì trước đó phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông P theo giấy chủ quyền cấp năm 2009.
Bà Nguyễn Thị Thanh H là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn N (trước khi ông N chết) và đại diện cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N trình bày:
Thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị ông P trả lại cho bà M phần diện tích đất mà nhà bà M, ông N xây còn thiếu là 1,2m², diện tích đất
ngang 0,22m, chiều dài 5,45m, thuộc phần đất trống giữa hai nhà 958/10/13/3A và I L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Trần Thị L do ông Đồng Anh T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà L đồng ý với ý kiến trình bày của ông Đào Văn P, không đồng ý trả cho bà M phần diện tích đất như bà M yêu cầu vì đây là phần đất thuộc quyền sử dụng của ông P và bà L. Nguyên đơn trình bày việc lắp đặt hệ thống máy bơm nước ồn ào gia đình bà cũng đã chấm dứt, chỉ sử dụng máy bơm để bơm nước máy của công ty cấp nước lên tầng trên để sử dụng cho sinh hoạt trong gia đình. Hiện gia đình bà cũng để trống không xây dựng gì trên phần đất này mà dùng làm nơi lắp đặt đồng hồ điện, nước. Đề nghị Toà án xem xét, giải quyết đúng qui định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 204/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị M về việc yêu cầu ông Đào Văn P di dời các đồng hồ điện, nước, hệ thống đường ống nước trả lại cho bà Lê Thị Mỹ p diện tích 1.2m² đất hình tam giác tiếp giáp giữa nhà số I L và nhà số I L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 24/4/2024, bà Lê Thị M và bà Nguyễn Thị Thanh H nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Lê Thị M có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu sửa án sơ thẩm, buộc bị đơn ông P trả lại cho nguyên đơn diện tích 1,2m² đất.
Bị đơn ông Đào Văn P có người đại diện theo ủy quyền là ông Đồng Anh T không đồng ý với nội dung kháng cáo. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Thanh H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N và cũng là người đại diện theo ủy quyền cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, buộc bị đơn ông P trả lại cho nguyên đơn diện tích 1,2m² đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa hai căn nhà 958/10/13/3A (nhà của nguyên đơn) và nhà 958/10/13/3B (nhà của bị đơn) có một khoảng hở. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện việc
đo vẽ hiện trạng và áp ranh đối với phần đất giữa hai nhà 958/10/13/3A (nhà của nguyên đơn) và nhà 958/10/13/3B (nhà của bị đơn) để làm rõ phần đất tranh chấp mà quyết định bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là chưa có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 204/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân Tân Bình. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe đương sự trình bày ý kiến, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị M và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn N là bà Nguyễn Thị Thanh H làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Căn cứ vào các Giấy chứng nhận số 3647/UB-GCN ngày 25/9/2009 do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Đào Văn P và bà Trần Thị L thì diện tích nhà đất tại I L của ông P, bà L là 53,3m², thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ số 28. Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01441 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 29/6/2015 cho ông P, bà L thì diện tích nhà đất tại I L là 49,6m², nhỏ hơn diện tích được cấp năm 2009 là 3,71m². Tại Công văn số 1416/CNTB ngày 29/9/2017 của Văn phòng Đ Chi nhánh quận T thì phần chênh lệch giảm 3,71 m² do khi xây dựng, chủ nhà (ông Đào Văn P) tự chừa ra cho căn nhà thẳng và vuông vức, kèm tường trình không khiếu nại phần diện tích đất giảm. Ngoài ra, trên bản đồ địa chính thể hiện giữa hai căn nhà số I L (nhà nguyên đơn) và I (nhà bị đơn) Phường H, quận T có khoảng trống thuộc thửa 44 tờ bản đồ số 28 của căn nhà I L, Phường H, quận T. Căn cứ theo Giấy phép xây dựng số 13.1431/GPXD do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông P thì diện tích xây dựng (tầng 1) là 52,37m² nhưng tại Bản vẽ hiện trạng được kiểm tra nội nghiệp ngày 01/10/2014 thì diện tích khuôn viên đất của nhà 958/10/13/3B là 49,59m² diện tích xây dựng tầng 1 là 49,59m², so với Giấy chứng nhận số 3647/UB-GCNA ngày 25/9/2009 thì nhỏ hơn 3,71m².
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2622/2004 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 05/8/2004 cho bà Lê Thị M và ông Nguyễn Văn N, cập nhật chủ sở hữu là ông Lê Huy S, ghi nhận diện tích thửa đất số 45, tờ bản đồ số 28 là 37,8m². Năm 2011, sau khi nhận chuyển nhượng từ ông S, bà M và ông N đã xin cấp đổi và được cấp giấy chứng nhận mới số CH00519 ngày 17/02/2011 với diện tích đất 38,6m², có tăng so với trước đây. Ngoài ra, căn cứ theo Giấy phép xây dựng số 15.2080/GPXD ngày 14/10/2015 do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Nguyễn Văn N thì diện tích xây dựng (tầng 1) là 38,17m². Nguyên đơn cho rằng khi xây dựng lại có đo vẽ thì diện tích xây dựng chỉ 37,40 m² nên yêu cầu bị đơn phải trả phần diện tích nhà của nguyên đơn xây còn thiếu 1,20m². Tại công văn số 653/CNTB ngày 20/5/2019 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận Đ có nội dung: Qua xác minh hiện trạng thực tế, giữa hai căn nhà có khoảng đất trống, chiều ngang mặt tiền đo được 0,3m, không đo được chiều dài. Ngoài ra, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 12/9/2017 cũng ghi nhận phía bên hông phải nhà 958/10/13/3A (nhà nguyên đơn) và nhà 958/10/13/3B có một khoảng hở, chiều ngang khoảng 10cm.
Từ những căn cứ nêu trên thể hiện giữa hai căn nhà 958/10/13/3A (nhà của nguyên đơn) và nhà 958/10/13/3B (nhà của bị đơn) có một khoảng hở. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện việc đo vẽ hiện trạng và áp ranh đối với phần đất giữa hai nhà 958/10/13/3A (nhà của nguyên đơn) và nhà 958/10/13/3B (nhà của bị đơn) để làm rõ phần đất tranh chấp mà quyết định bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là chưa có căn cứ. Do đó, để có căn cứ giải quyết vụ án này đúng theo quy định của pháp luật, cần phải thực hiện việc đo vẽ hiện trạng và áp ranh đối với phần đất giữa hai nhà 958/10/13/3A (nhà của nguyên đơn) và nhà 958/10/13/3B (nhà của bị đơn) để làm rõ phần đất tranh chấp. Để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự và đảm bảo hai cấp xét xử. Việc này cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh H, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm thẩm số 204/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân Tân Bình. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 204/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân Tân Bình. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà Lê Thị M và bà Nguyễn Thị Thanh H không phải chịu. H1 lại 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng cho bà H theo biên lai thu số 0001678 ngày 25/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi giải quyết lại vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí tòa án;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo nguyên đơn bà Lê Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh H;
Xử:
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 204/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Lê Thị M và bà Nguyễn Thị Thanh H không phải chịu, hoàn lại 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng cho bà H theo biên lai thu số 0001678 ngày 25/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi giải quyết lại vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |
Bản án số 703/2024/DSPT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 703/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TC quyền sử dụng đất
