|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 702/2025/HS-PT Ngày 14-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
Ông Bùi Ngọc Thạch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 578/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Vương Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo: Vương Văn Đ, sinh năm: 1995 tại tỉnh Bình Dương; đăng ký thường trú: khu phố P, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là tổ A, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1964 (đã chết năm 2018) và bà Vương Thị L, sinh năm: 1968; gia đình bị cáo có 07 anh em, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 15/5/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tuyên xử 01 năm 03 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo Bản án số 37/2012/HSST, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Ngày 23/7/2012, bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 11/02/2013, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
2
- Ngày 18/11/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tuyên xử 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 175/HSST đối với hành vi thực hiện ngày 22/01/2016, bồi thường cho ông Huỳnh Hoài T số tiền 5.800.000 đồng; buộc nộp lại số tiền 2.000.000 đồng sung quỹ nhà nước, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; án phí dân sự sơ thẩm 290.000 đồng. Ngày 16/5/2018, bị cáo chấp hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm. Ngày 30/8/2023, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương ra Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2023/QÐST-VDS miễn nghĩa vụ thi hành án buộc nộp lại số tiền 2.000.000 đồng sung quỹ nhà nước cho bị cáo. Đối với việc bồi thường cho ông Huỳnh Hoài T số tiền 5.800.000 đồng, qua xác minh ông T không có đơn thi hành án.
- Ngày 29/12/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tuyên xử 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 12/8/2016 theo Bản án số 320/HSST. Tổng hợp với Bản án số 175/HSST ngày 18/11/2016 bị cáo phải chấp hành hình phạt 02 năm 06 tháng tù, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Ngày 20/02/2017, bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm
- Ngày 18/10/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 29/7/2016 theo Bản án số 184/HSST. Tổng hợp Bản án số 320/HSST ngày 29/12/2016, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 06 tháng tù; Buộc bồi thường dân sự cho bà Trịnh Triệu Y số tiền 15.000.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 750.000 đồng. Bị cáo kháng cáo. Ngày 17/01/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Bản án số 17/2018/HSPT tuyên sửa Bản án số 184/HSST ngày 18/10/2017, xử phạt bị cáo 02 năm tù. Tổng hợp với Bản án số 320/HSST ngày 29/12/2016, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm 06 tháng tù. Ngày 16/5/2018, bị cáo chấp hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm. Ngày 29/8/2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Đối với việc bồi thường cho bà Trịnh Triệu Y số tiền 15.000.000 đồng, qua xác minh bà Y không có đơn yêu cầu thi hành án.
- Ngày 12/01/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tuyên xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 24/8/2021, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo Bản án số 05/HSST. Ngày 12/5/2022, bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 24/02/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 25/5/2025, bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, vụ án còn có 01 bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vương Văn Đ không có nghề nghiệp ổn định. Ngày 12/01/2022, Đây bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 24/02/2023, Đây chấp hành xong hình phạt tù. Do không có tiền tiêu xài nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài.
Đây thường xuyên đi lòng vòng quanh khu vực khu phân lô gần nhà của Đ tại khu phố P, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh tìm tài sản để trộm. Khi đi ngang qua nhà anh Hồ Đức T1 (sinh năm 1994, nơi thường trú: Khu phố P, phường H, Thành phố Hồ chí Minh), Đây quan sát thấy anh T1 thường để xe mô tô ở trong sân nhà và chỉ khoá cửa cổng nên nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của anh T1 đem bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 25/5/2025, Đ đi bộ từ nhà riêng của mình đến nhà của anh T1, quan sát thấy có 02 xe mô tô để trong sân nhà, gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển số 38L1-5202 và một xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Balde màu vàng đen, biển số 59V2-139.91. Đây quan sát xung quanh thấy không có người qua lại, trong nhà cũng không có động tĩnh gì, biết anh T1 đã ngủ say nên Đ đi đến cổng, dùng hai tay luồn vào khe hở trên cửa cổng tìm được vị trí cài ổ khoá (loại khoá số) bên trong, Đ dùng tay bấm nút mở trên ổ khoá thì ổ khoá mở ra, rồi lén lút đi vào sân, đến vị trí xe mô tô Honda Wave biển số 38L1-5202 và đẩy xe ra ngoài cổng, do xe có cắm sẵn chìa khoá nên Đ điều khiển xe chạy về nhà riêng của mình để trong phòng khách. Sau đó, Đ tiếp tục đi bộ đến nhà anh T1 quan sát thấy không ai phát hiện nên lén lút đến vị trí xe mô tô nhãn hiệu Air Blade biển số 59V2-139.91 đẩy xe ra ngoài cổng rồi đẩy về nhà mình, để trong buồng, lấy mền trùm lại. Đây tháo biển số xe Honda Wave biển số 38L1-5202 ra và đem giấu dưới nền nhà, dùng cát lấp lại.
Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 25/5/2025, anh Hồ Đức T1 thức dậy thấy mất xe nên trình báo Công an phường H. Công an phường H kiểm tra định vị gắn trong xe mô tô nhãn hiệu Air Blade biển số 59V2-139.91 và phát hiện vị trí xe đang ở nhà của Vương Văn Đ. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an phường H kiểm tra hành chính nhà của Vương Văn Đ phát hiện 02 xe mô tô của anh T1 bị mất đang ở trong nhà của Đ. Công an phường tiến hành lập biên bản, tạm giữ tang vật. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, biển số 59V2-139.91.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 38L1-5202.
4
Tại Cơ quan điều tra, Vương Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Đ phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận định giá tài sản số 64 ngày 28/5/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu vàng đen, biển số 59V2-139.91 trị giá 11.330.000 đồng và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, biển số 38L1-5202 trị giá 6.330.000 đồng. Tổng trị giá là 17.660.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô Honda Wave biển số 38L1-5202, số khung: AY195528, số máy: 2695592 do Trương Thị Hà T2 (sinh năm 1990, nơi thường trú: thôn I, N, Q, Nghệ An) là chị dâu của anh T1 đứng tên đăng ký. Năm 2019, chị T2 cho anh T1 để làm phương tiện đi lại nhưng không làm thủ tục sang tên.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Air Blade biển số 59V2-139.91, số máy: E7002585, số khung: EZ302550 do Võ Thị Hoài T3 (sinh năm 1975, nơi thường trú: Dương Q, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký. Năm 2016, Võ Thị Hoài T3 bán xe cho anh T1 nhưng không làm thủ tục sang tên.
Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSBC ngày 20/8/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực X Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Vương Văn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Vương Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vương Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/5/2025.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18 tháng 9 năm 2025 bị cáo Vương Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: hành vi của bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý, trông coi tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại 02 lần với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 17.660.000 đồng. Bên cạnh đó bị cáo có nhân thân rất xấu, trong đó có 1 lần bị xét xử về tội Hủy hoại tài sản và nhiều lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, qua đó cho thấy bị cáo là người không có ý thức chấp hành pháp luật, không có sự ăn năn hối cải sau những lần phạm tội. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của
5
bị cáo, đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vương Văn Đ, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát nay là Viện Kiểm sát nhân dân khu vực X Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vương Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 25/5/2025, tại nhà của anh Hồ Đức T1, địa chỉ: khu phố P, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh, Vương Văn Đ đã có hành vi 02 lần lén lút chiếm đoạt tài sản gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu vàng đen, biển số 59V2-139.91 trị giá 11.330.000 đồng và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, biển số 38L1-5202 trị giá 6.330.000 đồng (tổng trị giá tài sản là 17.660.000 đồng) của anh Hồ Đức T1, sau đó đem về nhà cất giấu để bán thì bị phát hiện, bắt giữ.
[3] Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 17.660.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
6
[4] Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhân thân xấu, có 01 lần bị xét xử về tội hủy hoại tài sản, 04 lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản. Trong vụ án này quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: do có 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại, mỗi lần đều có lỗi cố ý và đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và trên cơ sở đó tuyên phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vương Văn Đ, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Vương Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/5/2025.
-
Án phí hình sự phúc thẩm: áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Vương Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Mai |
Bản án số 702/2025/HS-PT ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 702/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vương Văn Đ- Trộm cắp tài sản
