|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 702/2024/DS-PT Ngày: 03/12/2024 V/v tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các Thẩm phán: Ông Vũ Toàn Giang
Bà Trần Thị Liên Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 366/2024/TLPT-DS ngày 22/10/2024, về việc “ Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do bản án sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 467/2024/QĐ-PT ngày 28/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 595/2024/QĐPT-HPT ngày 13/11/2024 giữa:
- Nguyên đơn: + Anh Nguyễn Duy C, sinh năm 1996
+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995
Cùng trú tại: Thôn P, xã T, huyện T, Hà Nội.
( Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Chu Văn T và ông Hoàng Đức N, Luật sư Công ty L1. ( Có mặt ông N, vắng mặt ông T).
Bị đơn: + Anh Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1981
+ Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1986
Cùng trú tại: Số B, ngõ H đường X, B, xã T, huyện T, Hà Nội.
( Anh T1 vắng mặt; chị B có mặt).
Đại diện theo ủy quyền : Ông Phạm Minh T2 – sinh năm 1980
Trú tại B Y, quận H, thành phố Hà Nội.
( Có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1977
- Anh Vũ Mạnh D, sinh năm 1979
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1954.
- Ông Nguyễn Học T3, sinh năm 1956
- Anh Bùi Tiến H1, sinh năm 1978
- Chị Lê Thị Thu N1, sinh năm 1983. ( Vắng mặt).
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1938 ( Vắng mặt).
- Cháu Nguyễn Trọng H2, (con anh T1, chị B)
- Cháu Nguyễn Trọng T4 (con anh T1, chị B)
Đều trú tại: P.216-CT2B, KĐT Văn Q- Y, phường P, quận H, Hà Nội. ( Vắng mặt)
Đều trú tại: Số A, ngách A, ngõ I đường N, TDP Đ, phường V, H, Hà Nội. ( Vắng mặt).
Trú tại: Thôn H, xã T, Huyện T, Hà Nội. ( Vắng mặt).
Trú tại: KĐT Thanh Hà, xã Cự Khê, T, Hà Nội
Trú tại: Số nhà B, Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Trọng H2, Nguyễn Trọng T4 là chị Nguyễn Thị B sinh năm 1986; Trú tại: Số B, ngõ H đường X, B, xã T, huyện T, Hà Nội. ( Có mặt).
NỘI DUNG
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Do có nhu cầu mua đất để sử dụng nên tháng 2/2022 vợ chồng tôi thông qua trung tâm môi giới giới thiệu đã mua của bà N1 ở khu đô thị T, C, T, Hà Nội và ông H2 ở T, T, Hà Nội 01 thửa đất 964, tờ bản đồ số 19 tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội với giá là 1.000.000.000 đồng. Hai bên đã thống nhất thỏa thuận việc mua bán và đến Văn phòng C1 làm thủ tục sang tên chuyển nhượng mua bán thửa đất trên, vợ chồng tôi cũng đã thanh toán trả tiền đầy đủ cho ông H2, bà N1. Sau khi kí hợp đồng chúng tôi xuống nhận bàn giao đất thì xảy ra tranh chấp với phía nhà anh T1, chị B; bên bán đất chỉ mốc giới cho chúng tôi nhưng nhà anh T1, chị B xây tường mới lấn sang vị trí đất nhà tôi; bà N1, ông H2 và vợ chồng tôi có đến đàm phán, ban đầu vợ chồng anh T1, chị B đồng ý sáng mai đo và xây dựng tường lại nhưng sáng hôm sau anh T1, chị B không đo lại, trát tường luôn nên chúng tôi đã gửi đơn ra xã đề nghị tiến hành hòa giải nhưng vẫn không hòa giải được. Chúng tôi đã nhờ bên công ty Đ đo thì thấy bức tường nhà anh T1, chị B xây lấn sang đất nhà tôi khoảng 3,5m². Nay tôi khởi kiện yêu cầu anh T1, chị B tháo dỡ bức tường rào xây lấn chiếm sang nhà tôi, trả lại vợ chồng tôi phần diện tích đã lấn chiếm
* Tại biên bản tự khai và các biên bản lấy lời khai tại tòa Bị đơn trình bày: Nhà của vợ chồng tôi ở thửa đất số 963, tờ bản đồ số 19, địa chỉ Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội nằm sát cạnh thửa đất số 964, tờ bản đồ 19 của vợ chồng anh Nguyễn Duy C, chị Nguyễn Thị H. Thửa đất của anh C, chị H trước đây có nguồn gốc là của gia đình tôi, trên đất gia đình tôi có xây dựng 01 nhà một tầng 1 tum, sân, tường hoa cao khoảng 70m và một cái vườn để chăn nuôi; tường hoa được xây để ngăn cách giữa nhà với vườn; tổng diện tích của cả khu đất (gồm nhà, vườn) là 291m² tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội. Khoảng năm 2021 gia đình tôi nợ ngân hàng nên đã chuyển nhượng cho bạn Nguyễn Văn T5 ở K, T, Hà Nội (địa chỉ cụ thể tôi không nhớ) 112,8m² là diện tích vườn tính từ tường hoa ra vườn (bao gồm cả tường hoa, tức là tường hoa thuộc phần đất gia đình tôi bán cho anh T5); phần nhà đất trong tường hoa nhà tôi vẫn sử dụng, sau đó anh T5 tách thửa đất mua của gia đình tôi ra làm hai thửa và chuyển nhượng lại cho người khác trong đó có một thửa mà anh C, chị H nhận chuyển nhượng như hiện nay. Khi anh T5 không sử dụng đất, tôi có nhờ anh T5 cho gia đình sử dụng để nuôi gà; đến khoảng năm ngoái thì có một anh gọi điện cho tôi bảo là đã nhận chuyển nhượng đất tại thửa đất số 964, tờ bản đồ 19 địa chỉ Thôn B, xã T, T của anh T5 nên muốn xây một hai hàng gạch bao quanh để làm mốc giới và đập hết chuồng gà, bờ rào cũ phía mặt đường thì vợ chồng tôi cũng đồng ý vì đất đã bán rồi. Sau đó anh chủ đất xây tường cao hai hàng gạch để làm mốc giới giữa hai bên trong đó cạnh giáp nhà tôi thì anh ý xây chùm qua tường hoa (tức là lấn sang đất nhà tôi một hàng gạch, vì diện tích đất nhà tôi bán tính từ tường hoa ra vườn). Do lúc đó vợ chồng tôi không có nhà nên họ đã xây tường cao 1,2 hàng quặp vào phía trong tường hoa; do tôi nghĩ đơn giản chỉ một hai phân đất, lại ở sát nhau nên tôi không nói gì nữa. Khi anh chủ cũ yêu cầu phá hết chuồng gà, chuồng lợn thì nhà tôi bị trống toang hoác nên khoảng cuối năm 2022 vợ chồng tôi đã xây tường bao cao tấm 1,5m để bao quanh đất nhà tôi. Cùng thời điểm đó thì chúng tôi được biết vợ chồng anh C, chị H mua thửa đất giáp nhà tôi nên khi thấy vợ chồng tôi xây tường bao thì anh chị ý cho rằng chúng tôi xây lấn sang đất của nhà anh chị ý nhưng thực tế gia đình tôi xây dựng tường bao trên đất của chúng tôi, bức tường đó còn đang cách mốc giới với thửa đất gia đình tôi đã bán là 10 phân. Nay anh C, chị H khởi kiện cho rằng gia đình tôi lấn sang đất của nhà anh C là không đúng; khi gia đình bán đất thì đã bàn giao đầy đủ cho người mua, người mua đất của gia đình tôi đã bán qua nhiều chủ rồi; chủ đất cũng đã tách đôi thửa đất của gia đình tôi làm hai mảnh. Đề nghị anh C xem lại diện tích của cả ba thửa để xác định thửa nào lấn sang đất của gia đình anh C, chị H; chứ gia đình tôi không lấn đất của ai cả.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Anh T6 trình bày: năm 2021 tôi có bán hộ chị B hai mảnh đất tại B, T cho chị Nguyễn Thị P và bà Nguyễn Lệ H3; diện tích hai mảnh đất theo đúng bản đo mảnh 1 là 56,5m², mảnh hai là 56,3m²; cả hai mảnh đều có 4m mặt tiền và 4 m mặt hậu theo đúng kích thước của bản đo do Công ty cổ phần T8 đo đạc và đóng dấu. Toàn bộ bản đo và làm thủ tục tách thửa do chị B tự làm và xin công văn tách thửa, tôi chỉ giúp chị B gọi khách mua ký phần chuyển nhượng. sau khi hoàn tất mua bán hai mảnh đất trên cho chị B bàn giao sổ và đất nguyên trạng chưa xây tường, ngăn phân lô và không xảy ra tranh chấp gì giữa hai bên;
+ Chị P, anh D trình bày: Năm 2021 tôi có mua 01 mảnh đất 56,5m² (thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19 tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội) và tôi có bán lại cho bà Nguyễn Thị K và bà đã sang tên sổ đỏ mới mang tên bà. Khi tôi mua có anh T6 Kim bài là người giới thiệu và khi tiến hành mua bán thì tôi kí hợp đồng mua bán và làm thủ tục mua bán với nhà anh T1, chị B. Tại thời điểm lúc tôi mua đất, hiện trạng đất có 01 nhà cấp 4 cũ, chủ đất có chỉ mốc giới sơn đỏ trên tường và làm chia tách sang tên sổ đỏ cho tôi. Do tôi mua đầu tư nên chỉ nhận sổ đỏ mà không có bản vẽ bàn giao mốc giới và khi bán sang tên cho bà K cũng không có tranh chấp gì. Hôm hội đồng định giá đến làm việc, tôi có đến tham dự buổi định giá nhưng không còn dấu sơn đỏ trước đây nữa, vì vậy nếu có tranh chấp đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Do tôi đã bán mảnh đất từ trước rồi và vụ việc này không liên quan gì đến chúng tôi nên chúng tôi xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và phiên tòa xét xử.
+ Bà K, ông T3 trình bày: Năm 2021 tôi có mua của chị nguyễn Thị P thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19, diện tích 56,5m² tại Thôn B, xã T, huyện T . Khi tôi mua đất của chị P thì chị P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trên đất có 01 nhà cấp bốn khoảng hơn 10 m² còn lại là đất trống. Khi mua chị P có dẫn tôi đến và chỉ mốc giới cho tôi thửa đất của tôi có đánh dấu đỏ trên tường nhà cấp bốn phía mặt tiền, còn mặt hậu cũng đánh dấu sơn đỏ ở cột nhưng hôm nay hội đồng định giá tới xem xét hiện trạng thì không thấy nhà cấp bốn và các dấu sơn đã đánh dấu trước đây nữa. Năm 2022 tôi có bán cho chị N1, anh H2 thửa đất trên và chỉ làm hợp đồng ủy quyền sau này anh H2, chi N1 bán đất cho anh C, chị H3 tôi cũng không biết. Sau đó anh H2 bảo tôi đến bàn giao đất thì tôi có gọi chị P đến nhưng lúc đến thì chúng tôi mới thấy mốc giới chúng tôi bàn giao trước đây không còn nữa, nhà cấp bốn đã bị phá, anh H2 chị N1 đã bán thửa đất trên cho anh C, chị H3 và đang làm thủ tục chuyển nhượng tại văn phòng đang ký đất đai; bức tường cũ trước đây ngăn cách giữa nhà anh T1 chị B với thửa đất của tôi đã bị thay thế tường do anh T1, chị B xây
+ Chị N1 trình bày: Tôi và ông Bùi Tiến H1 nhận ủy quyền của ông T3, bà K ngày 19/2/2022 tại Văn phòng C1, bán cho anh C, chị H3 ngày 22/5/2022; khi bán cho anh cường hiện trạng trên đất không có bức tường cao 1,5m phía tiếp giáp nhà chị B mà chỉ là mảnh vườn đất không và diện tích đúng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mặt tiền 4m, mặt hậu 4m. Sau khi bán vài ngày, anh cường thông báo chị B xây tường rào cao 1,5m vào phần đất của anh C, sau đó chúng tôi đã xuống cùng anh C làm việc với chị B và hòa giải nhưng chị B không nghe, tranh chấp xảy ra từ đó.
+ Anh H1 trình bày: Tôi không có quan hệ họ hàng gì với bà K nhưng do bà K, ông T3 già yếu nên ngày 19/2/2022 tôi được bà Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Học T3 ủy quyền thay mặt bà K, ông T3 theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 209/Q1.3/2022, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/2/2022 tại Văn phòng C1 đối với thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19 tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội . Tại thời điểm kí ủy quyền cho tôi, bà K, ông T3 còn ủy quyền cho một người tên là N1. Sau khi được ông T3, Bà K ủy quyền và được sự đồng ý của ông T3, bà K, ngày 25/2/2022 Tôi và chị N1 đã kí hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19, diện tích 56,5 m² tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội cho anh Nguyễn Duy C và chị Nguyễn Thị H tại văn phòng C1. Sau khi công chứng xong thì anh C, chị H đã thanh toán đủ tiền cho bên bán; bên bán có tôi, con ông K bà T3 và ba đời chủ đất trước đấy cũng đến bàn giao đất tại thực địa; Lúc đó tôi có chứng kiến và địa chính xã xuống thực địa có công ty Đ đến đo và đại diện gia đình chị B, anh T1 có mẹ là bà L chỉ mốc giới; tôi còn nhớ lúc chỉ mốc giới các bên có đo trích lục, lấy nhà hàng xóm ở ngoài cùng làm mốc và đo mặt tiền mặt hậu của hai thửa đất theo trích đo của sơ đồ thửa đất; do mặt tiền đã đủ nên các bên không đánh dấu, còn mặt hậu thì chưa chính xác nên khi đo các bên có đánh dấu sơn ở trên tường gạch phía sau có ống tuýp mái tôn tức là tính từ bức tường hoa vào khoảng 20cm là ranh giới đất giữa nhà anh Tuân B1 (chủ cũ) và nhà anh C, H (chủ mới). Sau đó chúng tôi có nói chuyện với chị B1, tôi có bảo là mốc giới của nhà em lấn sang nhà Cường H4 20 cm tính từ tường hoa sang phía nhà Băng T1 thì chị B1 chỉ nói là em bận lắm thôi để đến mai; đến lần sau chúng tôi đến thì chị B1 không chấp nhận mốc giới và đóng cửa. Nay Tòa án thông báo, tôi xin trình bày những việc mà tôi biết; theo tôi việc vợ chồng anh C, chị H4 mua đất là có thật; việc anh C, chị H4 cho rằng đất hiện tại của gia đình anh C, chị H4 thiếu hụt là do gia đình chủ cũ tức anh T1, chị B1 tham nên xây lấn sang mà thôi; đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vì chúng tôi lấy mốc giới để đo theo mặt tiền mặt hậu là chính xác.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thành Oai, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy C và chị Nguyễn Thị H.
- Buộc anh Nguyễn Trọng T1 và chị Nguyễn Thị B tháo dỡ bức tường cao 1,5m²; trả lại anh Nguyễn Duy C và chị Nguyễn Thị H 1,4m² đất được giới hạn bởi các điểm 4,5,11,4 (diện tích đất này thuộc thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19 tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội, đã được Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE633759, ngày 29/3/2022 cho anh Nguyễn Duy C và chị Nguyễn Thị H
Có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 22/8/2024 Bị đơn là ông Nguyễn Trọng T1 và bà Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.
Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích vụ án có quan điểm: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xét thấy có cơ sở xác định bị đơn đã xây tường ngăn lấn sang phần đất của nguyên đơn là 1,4m2. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn là ông Nguyễn Trọng T1, bà Nguyễn Thị B. Tuy nhiên tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại cho Nguyên đơn diện tích lấn chiếm là 3,5m2 đất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc Bị đơn trả lại cho Nguyên đơn 1,4m2 đất, nhưng tòa án cấp sơ thẩm lại chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn là có thiếu sót, do đó cần sửa án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm sửa về cách tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn; Buộc bị đơn phải tháo dỡ bức tường cao 1,5m để trả lại cho Nguyên đơn 1,4m2 đất; Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Trọng T1, bà Nguyễn Thị B làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
+ Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị đơn là anh Nguyễn Trọng T1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xem xét thẩm định lại. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, việc xem xét thẩm định tại chỗ của cấp sơ thẩm đã được thực hiện theo quy định của pháp luật và có sự chứng kiến của các đương sự và các đương sự không có ý kiến thắc mắc gì. Do vậy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của bị đơn.
[2].Về nội dung: xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn là ông Nguyễn Trọng T1, bà Nguyễn Thị B, Hội đồng xét xử xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19 tại thôn B, xã T, T, Hà Nội đã được Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE633759 mang tên ông Nguyễn Duy C và bà Nguyễn Thị H có nguồn gốc được tách từ thửa đất số 75, tờ bản đồ số 4; địa chỉ thôn B, xã T, huyện T (theo bản đồ năm 1995-1997), do nhận chuyển nhượng, cụ thể:
Ngày 24/3/2021, anh Nguyễn Trọng T1 và chị Nguyễn Thị P ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nội dung anh T1 chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị P 56,5m² đất thuộc thửa đất số 75, tờ bản đồ số 4 (tổng diện tích 291m²) có địa chỉ tại thôn B, xã T; cùng ngày, anh Nguyễn Trọng T1 cũng làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chị Nguyễn Lệ H3 và anh Nguyễn Thanh T7 để chuyển nhượng 56,3m² đất thuộc thửa đất số 75, tờ bản đồ số 4 tại B, xã T, T, Hà Nội.
Sau khi ký kết các hợp đồng chuyển nhượng đất trên, các bên đã làm thủ tục tách thửa đất số 75, tờ bản đồ số 4, diện tích 291m² làm ba thửa đất. Cụ thể theo bản đồ địa chính đo đạc dự án tổng thể ba thửa đất tách ra từ thửa số 75, tờ bản đồ số 4 có thông tin chi tiết cụ thể như sau: Thửa đất 963, tờ bản đồ 19, diện tích 178,2m² tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA344928 do Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 26/4/2021 mang tên chủ sử dụng là anh Nguyễn Trọng T1; Thửa đất số 964, tờ bản đồ 19, diện tích 56,5m² tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA344926 do Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 26/4/2021 mang tên chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị P và ông Vũ Mạnh D; Thửa đất 965, tờ bản đồ 19, diện tích 56,3m² tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA344927 do Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 26/4/2021 mang tên chủ sử dụng là bà Nguyễn Lệ H3 và ông Nguyễn Thanh T7.
Ngày 16/7/2021, chị P và anh D làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 964, tờ bản đồ 19 cho bà Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Học T3. Ngày 19/02/2022, bà K và ông T3 đã làm Hợp đồng uỷ quyền cho anh Bùi Tiến H1 và chị Lê Thị Thu N1 thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19 tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội. Ngày 25/02/2022, anh Bùi Tiến H1 và chị Lê Thị Thu N1 đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên cho anh Nguyễn Duy C và chị Nguyễn Thị H. Ngày 29/3/2022 anh Nguyễn Duy C và chị Nguyễn Thị H đã được Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE633759 đối với thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19 tại Thôn B, xã T, huyện T, Hà Nội.
Quá trình giải quyết vụ án chị B (vợ anh T1) khai khi bán đất nhà chị đã trả đủ đất và có giao nộp cho Tòa án bản trích đo địa chính thửa đất phục vụ công tác đăng ký biến động về sử dụng đất có chữ ký của anh T1 và các bên liên quan; các chủ sử dụng đất của thửa đất 964, tờ bản đồ số 19 qua các lần mua bán đều thừa nhận thửa đất số 964 có diện tích 56,5m² đều khai chiều dài mặt tiền (giáp ngõ) và mặt hậu của thửa đất là 4,00m; hồ sơ tách thửa và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 964, tờ bản đồ 19 tại Thôn B, xã T có diện tích 56,5m² thể hiện: chiều dài mặt tiền (giáp ngõ) và mặt hậu của thửa đất là 4,00m; thửa đất số 965 có diện tích 56,3m², chiều dài mặt tiền (giáp ngõ) và mặt hậu đều là 4,00m; đối với thửa đất số 963 gồm diện tích còn lại của anh Nguyễn Trọng T1 sau khi chuyển nhượng. Tuy nhiên, tại bản trích đo thửa đất được lập ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản xác định diện tích, chiều dài cạnh theo hiện trạng thực tế của các thửa đất số 965, 964, 963 được xác định như sau: Thửa đất số 965 có diện tích 56,9m², chiều dài mặt tiền (giáp ngõ) là 4,01m, chiều dài mặt hậu là 4,00m; Thửa đất số 964 có diện tích 55,1m², chiều dài mặt tiền (giáp ngõ) là 4,00m, chiều dài mặt hậu là 3,80m; Thửa đất số 963 có diện tích 181,0m², chiều dài mặt tiền (giáp ngõ) là 13,14m, chiều dài mặt hậu là 13,82m. Như vậy, hiện thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19 tại thôn B, xã T của anh C, chị H, diện tích đất thiếu 1,4m²; chiều dài mặt hậu bị thiếu 0,20m so với diện tích và chiều dài mặt hậu trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh C, chị H đã được cấp; phần diện tích thực tế hiện nay của thửa đất số 963 của anh T1, chị B là 181,0m², thừa ra 2,8m² so với diện tích đất được ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ vào bản trích đo hiện trạng thửa đất và các tài liệu chứng cứ chứng minh có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định phần diện tích đất của thửa đất số 964, tờ bản đồ số 19 tại thôn B, xã T, huyện T đã được Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chủ sử dụng là Nguyễn Duy C và Nguyễn Thị H có diện tích 56,5m² được giới hạn bởi các điểm 11,4,5,6,7,10,11.
Từ những căn cứ trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định phần diện tích đất của gia đình anh Nguyễn Trọng T1, chị Nguyễn Thị B thừa ra 1,4m² đất được giới hạn bởi các điểm 4,5,11,4, trên diện tích đất này có bức tường bao do gia đình anh T1, chị B xây dựng cao 1,5m và buộc anh T1, chị B tháo dỡ bức tường cao 1,5 m trả lại anh C, chị H 1,4m² đất đã lấn chiếm là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Trọng T1, chị Nguyễn Thị B, nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.
* Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên anh Nguyễn Trọng T1, chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 166,168 Bộ luật dân sự năm 2015.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm sơ số 18/2024/DS-ST ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội.
- Về án phí phúc thẩm: Anh T1, chị B mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm anh, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh, chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020875 và 0020874 ngày 23/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGÔ TUYẾT BĂNG. |
Bản án số 702/2024/DS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 702/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp ranh giới, quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Nguyễn Duy C, Nguyễn Thị H và bị đơn Nguyễn Trọng T, Nguyễn Thị B
