Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 701/2024/HS-PT

Ngày 21-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ

Ông Trần Văn Đạt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trung - Thư ký Tòa án nhân dân

cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 445/2024/TLPT- HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Thị Hiền V, do có kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Hiền V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quang T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 163/2024/HS-ST ngày 15-4-2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo kháng cáo:

Bùi Thị Hiền V, sinh năm 1980 tại Quảng Nam; nơi đăng ký HKTT : K H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: F khu dân cư P, số A Bưng Ô, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Minh Q và bà Nguyễn Thị C; có chồng Nguyễn Thanh Đăng K (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2005; tiền án; tiền sự: không. Bị bắt, tạm giam ngày 29/4/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Hoài N, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Quang T, sinh năm 1980; trú tại: C S, phường K, quận B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  2. Ông Trần Quốc H, sinh năm 1976; trú tại: Tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Tổ B, ấp N, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  3. Ông Bùi Minh V1, sinh năm 1990; trú tại: A V, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Ông Phan Gia T1, sinh năm 1981; trú tại: 2 M bạng, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  5. Ông Lâm Quang T2, sinh năm 1977; trú tại: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  6. Bà Phạm Thị Bích T3, sinh năm 1981; trú tại: Số B Đường số G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  7. Bà Tào Thị N1, sinh năm 1991; trú tại: Số B Đường A, KDC P, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  8. Ông Lê Văn D, sinh năm 1960; trú tại: C Ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  9. Ông Nguyễn Đình T4, sinh năm 1981; trú tại: K, xã P, huyện T, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  10. Ông Nguyễn Thanh Đăng K1, sinh năm 1977; trú tại: K H, Tổ G, phường B, quận H, Thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
  11. Bà Lê Thị T5, sinh năm 1967; trú tại: xã V, huyện V, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Trương Văn H1 và bị cáo Lê Hoàng T6 nhưng không có kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua môi giới, Lê Hoàng T6 và Trương Văn H1 có 300.000 đô la Singapore (SGD), loại mệnh giá 1.000 SGD để bán; Vào lúc 14 giờ ngày 16/3/2021, Bùi Thị Hiền V đã thỏa thuận bán 270.000 SGD cho ông Phạm Quang T (sinh ngày: 29/10/1980; CCCD: 0380800007777; HKTT: 37 S, phường K, quận B, thành phố Hà Nội) với giá 3.500.000.000 đồng. Ông T giao cho các cá nhân đại diện nhận tiền, gồm: Nguyễn Hồng P (sinh ngày 18/10/1981; CCCD: [...]; chỗ ở: C C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh) là người kiểm đếm và nhận tiền; Nguyễn Quang V2 (sinh ngày 15/10/1987; CCCD: [...]; chỗ ở: Nhà A ngõ D ngách A Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội) và Nguyễn Thị T7 (sinh ngày 31/5/1984; CCCD: [...]; HKTT: Đ, thôn A, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên) người chứng kiến và xác nhận tại nhà của V có tiền đô Singapore (SGD) bán. Sau khi nhận, đếm đủ 270 tờ, mỗi tờ mệnh giá 1.000 SGD, P, T7, V2 đã thông báo để ông T (sử dụng tài khoản ngân hàng T10, số tài khoản: 19599666666666) chuyển số tiền 3.500.000.000 đồng (ba tỷ năm trăm triệu đồng) cho V (sử dụng tài khoản ngân hàng T10 số tài khoản: 19028311652012). Nội dung chuyển tiền là “T chuyển tiền chị V để cọc đất”, thực chất là thanh toán tiền mua 270.000 SGD nêu trên.

Khi P mang số ngoại tệ trên về tiệm V3 tại Quận C nhờ ông Hoàng Ngọc T8 (sinh ngày 04/4/1981; CMND: [...]; chỗ ở: G N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh) chủ tiệm vàng kiểm tra, phát hiện là tiền giả thì báo lại cho T biết và được T yêu cầu mang đến nhà V để hoàn trả, lấy lại tiền thanh toán. Nhóm của P đem tiền SGD giả quay lại nhà V để trả, đòi lại 3.500.000.000 đồng; Đồng thời, Phúc trình báo sự việc cho Cơ quan Công an để được giải quyết.

Kết luận giám định số 2063/KLGĐ-TT ngày 29/3/2021 của Phòng K2, Công an Thành phố H xác định: 10 (mười) tờ giấy bạc có mệnh giá 1.000 đôla Singapore là giấy bạc giả, được làm giả trên chất liệu giấy, các nội dung trên tờ giấy bạc được in giả bằng phương pháp in laser màu.

Kết luận giám định số 2287/KLGĐ-TT ngày 29/4/2021 của Phòng K2, Công an Thành phố H xác định: 260 (hai trăm sáu mươi) tờ giấy bạc cần giám định là giấy bạc giả, được làm giả bằng phương pháp in laser màu trên chất liệu giấy, không đủ cơ sở để xác định loại phương tiện được sử dụng để làm giả 260 (hai trăm sáu mươi) tờ giấy bạc cần giám định.

Kết luận giám định số 1084/KLGĐ-TT ngày 16/02/2022, của Phòng K2, Công an Thành phố H xác định: 01 (một) tờ giấy bạc mệnh giá 1.000 đôla Singapore có số seri 2AB924098 (tờ tiền thu trong người Trương Văn H1) là tiền giả, được làm giả trên chất liệu giấy, nội dung trên tờ giấy bạc được in giả bằng phương pháp in laser màu.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 163/2024/HS-ST ngày 15-4-2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:

Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 207; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Thị H2 Vy 17 (mười bảy) năm tù về tội “Lưu hành tiền giả”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2021.

Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước, gồm:

  • Số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng do Tào Thị N1 giao nộp theo giấy nộp tiền vào tài khoản 3949.0.9061.594.00000 của Cơ quan an ninh điều tra Công an Thành phố H tại kho bạc nhà nước quận B ngày 06/01/2022;
  • Số tiền 225.000.000 (hai trăm hai mươi lăm triệu) đồng do Trần Quốc H giao nộp theo giấy nộp tiền vào tài khoản 3949.0.9061.594.00000 của Cơ quan an ninh điều tra Công an Thành phố H tại kho bạc nhà nước quận B ngày 19/01/2022;
  • Số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng do Lê Văn D giao nộp theo giấy nộp tiền vào tài khoản 3949.0.9061.594.00000 của Cơ quan an ninh điều tra Công an Thành phố H tại kho bạc nhà nước quận B ngày 22/3/2022;
  • Số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng do Lâm Quang T2 giao nộp theo giấy nộp tiền vào tài khoản 3949.0.9061.594.00000 của Cơ quan an ninh điều tra Công an Thành phố H tại kho bạc nhà nước quận B ngày 22/3/2022;
  • Số tiền 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng do Trương Thị Hoài D1 giao nộp theo giấy nộp tiền vào tài khoản 3949.0.9061.594.00000 của Cơ quan an ninh điều tra Công an Thành phố H tại kho bạc nhà nước quận B ngày 22/3/2022;
  • Số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng do Bùi Minh V1 nộp tiền khắc phục hậu quả cho Bùi Thị Hiền V theo giấy nộp tiền vào tài khoản 3949.0.9061.594.00000 của Cơ quan an ninh điều tra Công an Thành phố H tại kho bạc nhà nước quận B ngày 22/3/2022;
  • Số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng do Phạm Thị Bích T3 giao nộp theo giấy nộp tiền vào tài khoản 3949.0.9061.594.00000 của Cơ quan an ninh điều tra Công an Thành phố H tại kho bạc nhà nước quận B ngày 14/4/2022;

Buộc bị cáo Trương Văn H1 phải nộp lại 1.200.000.000 (một tỷ hai trăm triệu) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Buộc bị cáo Bùi Thị Hiền V phải nộp lại số tiền là 1.567.000.000 (một tỷ năm trăm sáu mươi bảy triệu) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Buộc ông Nguyễn Đình T4 phải nộp lại số tiền 128.000.000 (một trăm hai mươi tám triệu) đồng; ông Nguyễn Thanh Đăng K nộp lại số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu) đồng; bà Lê Thị T5 nộp lại số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng để bảo đảm phần nghĩa vụ thi hành án của bị cáo Bùi Thị Hiền V.

Buộc bị cáo Lê Hoàng T6 phải nộp lại 94.000.000 (chín mươi tư triệu) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng thu giữ của Nguyễn Hoàng T9 theo giấy nộp tiền vào tài khoản 3949.0.9061.594.00000 của Cơ quan an ninh điều tra Công an Thành phố H tại kho bạc nhà nước quận B ngày 23/02/2023 để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T9.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Trương Văn H1 và Lê Hoàng T6; tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, bị cáo Bùi Thị Hiền V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 20 tháng 4 năm 2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quang T làm đơn kháng cáo về số tiền 3.500.000.000 đồng ông T sử dụng để mua 270.000 đô Singapore (SGD) giả.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh luận tội: Bị cáo Bùi Thị Hiền V là người thực hành tích cực. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 17 năm tù là không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ.

Đối với kháng cáo của ông Phạm Quang T về số tiền 3.500.000.000 đồng ông T sử dụng để mua 270.000 đô Singapore (SGD), Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị: Ông Phạm Quang T có nhu cầu mua ngoại tệ để phục vụ cho việc kinh doanh, nhưng ông không đến các tổ chức có đăng ký kinh doanh ngoại tệ hợp pháp để mua, mà sử dụng số tiền 3.500.000.000 đồng nêu trên để mua 270.000 đô la Singapore (SGD) của Bùi Thị Hiền V. Do dó, Tòa án cấp sơ thẩm tịch thu số tiền này của ông T là có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo Bùi Thị Hiền V: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, ngoài các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt; phạm tội lần đầu; chưa có tiền án, tiền sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra xử lý vụ án” theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

  1. [1]. Kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Hiền V và kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quang T là trong hạn luật định, hợp lệ.
  2. [2]. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quang T có kháng cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, ông T có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị bệnh, nhưng không có tài liệu chứng minh về sức khỏe. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T theo thủ tục chung.

* Về nội dung:

- Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Thị Hiền V, nhận thấy:

  1. [3]. Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị Hiền V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết: Khi trao đổi, giao dịch, Trương Văn H1 không nói cho bị cáo biết 270.000 đô la Singapore (SGD) là giả, nhưng nghe H1 có nói với bị cáo số đô la Singapore đó chạy qua được máy kiểm tra bình thường, nhưng không chạy qua được máy kiểm tra của ngân hàng, nên bị cáo biết là không phải đô la Singapore thật, nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã giao dịch để bán lại cho ông T.
  2. [4]. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của đồng phạm khác đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi liên quan và kết luận giám định về đô la Singapore giả. Hành vi của bị cáo Bùi Thị Hiền V và đồng phạm, mua bán số ngoại tệ 270.000 đô Singapore (SGD) giả lưu hành ra thị trường, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài chính, tiền tệ, đã phạm vào tội “Lưu hành tiền giả” theo khoản 3 Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  3. [5]. Trong vụ án, bị cáo Bùi Thị Hiền V là người thực hành tích cực khi mua và bán 270.000 đô Singapore (SGD) giả cho ông Phạm Quang T để lấy 3.500.00.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; số tiền giả đã bị thu giữ chưa lưu hành ra thị trường; bị cáo đã tác động gia đình nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính, là có căn cứ. Riêng tình tiết giảm nhẹ “bị cáo đã tác động gia đình nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính” là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.
  4. [6]. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 17 năm tù, là có phần nghiêm khắc so với các các đồng phạm trong vụ án (các bị cáo Trương Văn H1 và Lê Hoàng T6 là người bán 270.000 đô la Singapore giả cho bị cáo Bùi Thị Hiền V, trong đó bị cáo H1 bị xử phạt 15 năm tù; bị cáo T6 bị xử phạt 15 năm tù). Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

- Xét kháng cáo của ông Phạm Quang T đối với số tiền 3.500.000.000 đồng đã sử dụng mua ngoại tệ, thấy rằng:

  1. [7]. Ông Phạm Quang T có nhu cầu mua ngoại tệ để phục vụ cho việc kinh doanh, nhưng ông không đến các tổ chức có đăng ký kinh doanh ngoại tệ hợp pháp để mua, mà sử dụng số tiền 3.500.000.000 đồng nêu trên để mua 270.000 đô la Singapore của Bùi Thị Hiền V là trái pháp luật. Tuy khi mua ông T không biết đó là đô la Singapore giả, nhưng theo quy định tại khoản 9 Điều 23 của Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, thì số tiền 3.500.000.000 đồng nêu trên của ông T dùng vào việc mua ngoại tệ trái pháp luật thì bị tịch thu. Do đó, Tòa án sơ thẩm không trả lại cho ông T số tiền nêu trên là có căn cứ, nên kháng cáo của ông T là không có căn cứ chấp nhận.
  2. [8]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo Bùi Thị Hiền V, là không có căn cứ chấp nhận.
  3. [9]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Quang T về số tiền 3.500.000.000 đồng, là có căn cứ chấp nhận.
  4. [10]. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo Bùi Thị Hiền V, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo, là có căn cứ chấp nhận. Nhưng đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, là không có căn cứ chấp nhận.
  5. [11]. Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
  6. [12]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Thị Hiền V.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quang T về yêu cầu trả lại số tiền 3.500.000.000 đồng đã sử dụng mua ngoại tệ trái pháp luật.
  3. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 163/2024/HS-ST ngày 15-4- 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

    Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Hiền V phạm tội “Lưu hành tiền giả”.

    Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 207; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Bùi Thị Hiền V 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2021.

    Án phí hình sự phúc thẩm:

    Bị cáo Bùi Thị Hiền V không phải chịu.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quang T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0031900 ngày 20/5/2024 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Công an TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Trại tạm giam CA TP.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT, ĐTTB (18b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 701/2024/HS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lưu hành tiền giả)

  • Số bản án: 701/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lưu hành tiền giả)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Hiền V phạm tội “Lưu hành tiền giả” theo khoản 3, khoản 5 Điều 207 BLHS 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger