TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 701/2024/DS-PT
Ngày: 03/12/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Chu Tuấn Anh |
| Các thẩm phán: | Ông Trương Chí Anh |
| Ông Lê Thanh Bình |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 28/2024/TLPT-DS ngày 22/02/2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 464/2024/QĐ-PT ngày 23/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 592/2024/QĐ-PT ngày 12/11/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V2); Địa chỉ: Tầng A, 6 và G tòa nhà C, A P, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tử K, bà Đinh Tuyết N, bà Ngô Hương L – Cán bộ ngân hàng. Có mặt
- Bị đơn: Bà Nguyễn Tuyết V1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số nhà C, tổ A, phường T, quận Đ, Hà Nội (số mới là: 20 ngõ D T, phường T, quận Đ, Hà Nội). Vắng mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1967 (có mặt).
- 3.2. Bà Đỗ Minh P, sinh năm 1971 (vắng mặt).
- 3.3. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1940 (vắng mặt).
- 3.4. Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1998 (vắng mặt).
- 3.5. Anh Nguyễn Khắc T1, sinh năm 2003 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: B ngõ D T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
1
Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP Q
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện nội dung:
Ngân hàng TMCP Q (sau đây viết tắt là Ngân hàng V3) và chị Nguyễn Tuyết V1 có ký Hợp đồng tín dụng số 003/HĐTD1-VIB/10/11 ngày 23/3/2011 và các khế ước nhận nợ:
- Số tiền vay: 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng); Thời hạn cho vay: 84 tháng; Mục đích: Vay thanh toán tiền mua bất động sản;
- Lãi suất vay: Lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân 23/4/2011.
- Mỗi tháng trả gốc 16.600.000 đồng.
- Trả lãi vào ngày 23 hàng tháng, kỳ trả đầu tiên vào 23/4/2011.
- Lần đầu tiên trả lãi là 21,8%/năm; thời gian tiếp theo, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/1 lần, bằng lãi suất điều chuyển vốn kinh doanh kỳ hạn 3 tháng VNĐ tại V2 (+) biên độ 5,3 %/năm.
Ngân hàng V3 đã giải ngân đủ số tiền 1.400.000.000 đồng theo đúng hợp đồng và khế ước nhận nợ. Tuy nhiên, chị V1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán vào ngày 23/6/2014.
Tính đến ngày ký đơn khởi kiện 22/1/2017:
- Các khoản tiền chị V1 đã trả cho V3:
- Tiền gốc đã trả: 656.678.399 đồng
- Tiền lãi và lãi quá hạn: 724.821.845 đồng.
- Tổng cộng tiền gốc và lãi đã trả 1.381.500.244 đồng.
- Các khoản nợ chị V1 còn nợ:
- Nợ tiền gốc là: 743.321.601 đồng.
- Nợ tiền lãi trong hạn là:171.794.584 đồng.
- Nợ tiền lãi quá hạn:148.786.605 đồng.
- Tổng cộng nợ:1.063.502.790 đồng.
* Tài sản đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng trên là Quyền sử dụng đất đối với thửa số 19, tờ bản đồ số 6G-III-09, Địa chỉ: Số B ngách D T, tổ A, phường T, quận Đ, Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất số AD 239072 do UBND quận Đ ngày 24/5/2009 mang tên ông Nguyễn Mạnh H.
2
Ngân hàng V3 đề nghị Tòa án buộc chị V1 phải trả cho Ngân hàng V3 các khoản nợ lãi và phí phát sinh của Hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ sau ngày 22/01/2017 cho đến khi tất toán khoản vay.
Trường hợp chị V1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Nguyên đơn, thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất đối với thửa số 19, tờ bản đồ số 6G-III-09, tại địa chỉ: Số B ngách D T, tổ A, phường T, quận Đ, Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất số AD 239072 do UBND quận Đ ngày 24/5/2009 mang tên ông Nguyễn Mạnh H để thu hồi nợ.
Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm:
Tính đến ngày 07/4/2023 ông Nguyễn Mạnh H đã trả cho Ngân hàng V3 đủ số nợ gốc là 743.321.601 đồng.
Bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với chị V1. Tuy nhiên, chị V1 không đến Tòa án làm việc, Tòa án cũng không nhận được văn bản ý kiến của chị V1 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, chỉ có ông Nguyễn Mạnh H gửi văn bản và đến Tòa án trình bày:
Ông H xác nhận có biết việc chị V1 (là em gái của ông H) vay vốn của Ngân hàng và ông H đã dùng tài sản của mình là nhà đất của gia đình đang ở để đảm bảo cho khoản vay của chị V1 tại Ngân hàng V3.
Ông H không biết thời điểm nào chị V1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, khi Tòa án thông báo Ngân hàng khởi kiện chị V1 thì ông đã vay mượn và huy động tiền từ gia đình để trả hết nợ gốc thay cho chị V1.
Tính đến nay ông H đã trả thay cho chị V1 xong nợ gốc.
Đối với số tiền 195.457.993 đồng lãi trong hạn thì ông H cũng đồng ý trả hộ chị V1, nhưng đề nghị Ngân hàng xem xét giảm và cho ông H thêm thời gian đề trả hộ chị V1.
Đối với khoản lãi quá hạn thì ông H không chấp nhận trả và cho rằng khi chị V1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thì Ngân hàng không báo ngay cho ông H để ông H có phương án giải quyết, mà Ngân hàng để quá lâu dẫn đến số tiền lãi quá lớn. Ông H đề nghị Tòa án tính thời hiệu khởi kiện cũng như quy định về tính lãi suất như trên của Ngân hàng xem có đúng pháp luật không. Do vậy, ông H không đồng ý trả các khoản lãi quá hạn cho Ngân hàng.
3
Tại phiên tòa sơ thẩm:
* Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V3, trình bày:
- Ngân hàng V3 rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Rút yêu cầu đòi số tiền nợ gốc là 743.321.601 đồng. Ngân hàng V3 xác nhận ông H đã trả thay cho chị V1 đủ số tiền nợ gốc nêu trên.
- Ngân hàng V3 đề nghị chị V1 phải trả các khoản:
- Nợ tiền lãi trong hạn là:195.457.993 đồng.
- Nợ tiền lãi quá hạn:1.058.000.000 đồng.
- Tổng cộng:1.253.499.760 đồng.
Và giữ nguyên yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi khoản nợ nếu chị V1 không trả đủ các khoản lãi trên cho Ngân hàng.
* Bị đơn: Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Vắng mặt tại phiên tòa.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 317; Điều 318; khoản 6 điều 320; Điều 357; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với chị Nguyễn Tuyết V1 về số tiền nợ gốc là 743.321.601 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với chị Nguyễn Tuyết V1 về yêu cầu thanh toán tiền lãi trong hạn còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 003/HĐTD1-VIB/10/11 ngày 23/3/2011.
Buộc chị Nguyễn Tuyết V1 phải trả Ngân hàng TMCP Q số tiền 195.457.993 đồng tiền lãi trong hạn.
- Trường hợp chị Nguyễn Tuyết V1 không thực hiện trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mại tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất đối với thửa số 19, tờ bản đồ số 6G-III-09, tại địa chỉ: Số B ngách D T, tổ A, phường T, quận Đ, Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất số AD 239072 do UBND quận Đ ngày 24/5/2009 mang tên ông Nguyễn Mạnh H để thu hồi nợ.
4
Hợp đồng thế chấp được công chứng số 002826 ngày 22/3/2011, tại Văn phòng C1, Thành phố Hà Nội, đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại văn phòng đăng ký đất và nhà chi nhánh Đ, Thành phố Hà Nội ngày 23/3/2011.
Tài sản đảm bảo được xử lý khi thi hành án sẽ được áp dụng kích thước thực tế tại thời điểm xử lý tài sản để thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Tuyết V1 phải chịu 9.772.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP Q phải chịu 43.740.000 đồng, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 19.000.000 đồng đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0014341 ngày 01/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa. Ngân hàng TMCP Q còn phải nộp thêm 24.740.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, Ngân hàng TMCP Q kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm: Ông Nguyễn Mạnh H đã nộp cho Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội Đơn đề nghị của bà Nguyễn Tuyết V1 có nội dung đề nghị Ngân hàng TMCP Q chấp thuận cho ông Nguyễn Mạnh H thay mặt bà V1 nộp đủ số tiền 500.000.000 đồng cho Ngân hàng TMCP Q trong vòng 30 ngày (kể từ ngày có thông báo chấp thuận phương án trả nợ của ngân hàng) để tất toán khoản vay và giải chấp tài sản đảm bảo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự là Ngân hàng TMCP Q và ông Nguyễn Mạnh H đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án như sau:
Ông Nguyễn Mạnh H đã trả nợ thay cho bà Nguyễn Tuyết V1 số tiền nợ lãi trong hạn: 195.457.993 đồng và lãi quá hạn: 304.542.007 đồng, tổng cộng là: 500.000.000 đồng. Ngân hàng TMCP Q đã miễn giảm cho bà Nguyễn Tuyết V1 toàn bộ số nợ lãi quá hạn còn lại của Hợp đồng tín dụng số 003/HĐTD-VIB/10/11 ngày 23/3/2011. Khoản nợ tín dụng của bà Nguyễn Tuyết V1 là: 195.457.993 đồng nợ lãi trong hạn và 1.058.000.000 đồng nợ lãi quá hạn) coi như được tất toán xong toàn bộ. Ngân hàng TMCP Q đã giải chấp tài sản đảm bảo là nhà đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 6G-III-09, địa chỉ: số B ngách D T, tổ A phường T, quận Đ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 239072 do UBND quận Đ ngày 24/9/2009 cho ông Nguyễn Mạnh H theo thông báo giải chấp ngày 24/10/2024. Các bên không còn bất kỳ quyền và nghĩa vụ gì liên quan đến Hợp đồng tín dụng số 003/HĐTD-VIB/10/11 ngày 23/3/2011 (giữa Ngân hàng TMCP Q chi nhánh H1 với bà Nguyễn Tuyết V1) và Hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng ngày 22/3/2011 (giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Nguyễn Mạnh H).
5
- Ông Nguyễn Mạnh H và Ngân hàng TMCP Q thống nhất thỏa thuận: Ông Nguyễn Mạnh H chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là: 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
Ông Nguyễn Mạnh H và Ngân hàng TMCP Q đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội công nhận sự thỏa thuận nêu trên.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về giải quyết nội dung vụ án: Sau khi phân tích đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
[1]. Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận về hình thức.
[2]. Về tố tụng và nội dung:
Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là bà Nguyễn Tuyết V1 có địa chỉ cư trú cuối cùng tại C, tổ A, phường T, quận Đ, Hà Nội. Căn cứ Khoản 3 Điều 26 và Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng pháp luật.
Các đương sự: Bà Nguyễn Tuyết V1, bà Đỗ Minh P, cụ Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thu T, anh Nguyễn Khắc T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, xét thấy: Các đương sự là Ngân hàng TMCP Q và ông Nguyễn Mạnh H đã thỏa thuận với nhau xong về việc giải quyết toàn bộ vụ án, không còn tranh chấp gì khác. Việc thỏa thuận của Ngân hàng TMCP Q và ông Nguyễn Mạnh H không trái với pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội, không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự khác trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự và sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí: Các đương sự là Ngân hàng TMCP Q và ông Nguyễn Mạnh H thống nhất thỏa thuận được với nhau và sự thỏa thuận là phù hợp với quy định của pháp luật nên được công nhận.
6
Do công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 148; Điều 296; Điều 300; Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DSST ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là Ngân hàng TMCP Q và ông Nguyễn Mạnh H, cụ thể như sau:
Ông Nguyễn Mạnh H đã trả nợ thay cho bà Nguyễn Tuyết V1 số tiền nợ lãi trong hạn: 195.457.993 đồng và lãi quá hạn: 304.542.007 đồng, tổng cộng là: 500.000.000 đồng. Ngân hàng TMCP Q đã miễn giảm cho bà Nguyễn Tuyết V1 toàn bộ số nợ lãi quá hạn còn lại của Hợp đồng tín dụng số 003/HĐTD-VIB/10/11 ngày 23/3/2011 (giữa Ngân hàng TMCP Q chi nhánh H1 với bà Nguyễn Tuyết V1). Khoản nợ tín dụng của bà Nguyễn Tuyết V1 là: 195.457.993 đồng nợ lãi trong hạn và 1.058.000.000 đồng nợ lãi quá hạn) đã được tất toán xong toàn bộ. Ngân hàng TMCP Q đã giải chấp tài sản đảm bảo là nhà đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 6G-III-09, địa chỉ: số B ngách D T, tổ A phường T, quận Đ, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 239072 do UBND quận Đ ngày 24/9/2009 cho ông Nguyễn Mạnh H theo thông báo giải chấp ngày 24/10/2024. Các bên không còn bất kỳ quyền và nghĩa vụ gì liên quan đến Hợp đồng tín dụng số 003/HĐTD-VIB/10/11 ngày 23/3/2011 (giữa Ngân hàng TMCP Q chi nhánh H1 với bà Nguyễn Tuyết V1) và Hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng ngày 22/3/2011 (giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Nguyễn Mạnh H).
Ông Nguyễn Mạnh H và Ngân hàng TMCP Q thống nhất thỏa thuận: Ông Nguyễn Mạnh H chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là: 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
Hoàn trả Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0014341 ngày 01/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
7
Ngân hàng TMCP Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2020/0072216 ngày 10/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Anh |
8
Bản án số 701/2024/DS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 701/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án phúc thẩm số 701 - Tranh chấp HĐ tín dụng
