Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 700/2024/DS-PT

Ngày: 02/12/2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng

nhà ở và đất ở.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng

Các Thẩm phán :

Bà Trần Thị Liên Anh

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lưu Ly - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Phương- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 11 năm 2024 và ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 154/2024/TLPT-DS ngày 15/5/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất ở và đất ở”.

Do bản án sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 29/2/2024 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 473/2024/QĐXXPT ngày 28/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 594/2024/QĐPT-HPT ngày 13/11/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959

Ông Nguyễn Thiên T, sinh năm 1961

Cùng trú tại: Số A ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T là bà Nguyễn Thị N. (Có mặt).

* Bị đơn: Ông Nguyễn Song H, sinh năm 1947

Địa chỉ: Số I ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông H là anh Nguyễn Hoàng M. (Có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân quận Đ3
  2. Do người đại diện theo pháp luật đại diện. (Vắng mặt)

  3. Cụ Nghiêm Văn Q
  1. Bà Trần Thị D, sinh năm 1952
  2. Địa chỉ : Số I Ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

    Bà Trần Thị D ủy quyền cho anh Nguyễn Hoàng M. (Có mặt).

  3. Anh Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1982
  4. Địa chỉ: số A ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Có mặt).

  5. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1962
  6. Địa chỉ: số A ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

  7. Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1990
  8. Chị Nguyễn Hồng V, sinh năm 1995
  9. Chị Nguyễn Hồng T2, sinh năm 2001
  10. Cùng địa chỉ: số A ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội

    Ông T3, chị Lan A, chị V, chị T2 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N. (Có mặt).

  11. Chị Vũ Thị Lệ T4, sinh nă 1977
  12. Cháu Nguyễn Đức N1, sinh năm 2015
  13. Cùng địa chỉ số I ngõ A N Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa, nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc thửa đất có diện tích 197m2, thửa số 47, tờ bản đồ số 6 E-II-08 tại địa chỉ số D, tổ A phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội là của bà nội bà là cụ Nghiêm Thị B sử dụng. Ông, bà không nhớ năm sinh và năm mất cũng như các anh chị em ruột của bà. Sau khi cụ B mất cụ Nguyễn Văn T5 và cụ Nguyễn Thị S (là bố, mẹ bà) tiếp tục sử dụng mảnh đất do cụ B để lại (Khi mất cụ B không để lại di chúc) từ năm 1953. Năm 1990 vợ chồng bà kết hôn và được bố mẹ nói cho mảnh đất trên. Do căn nhà cũ xuống cấp nên vợ chồng bà đã bỏ tiền ra xây dựng 01 căn nhà bên cạnh căn nhà cũ trên mảnh đất được bố mẹ cho. Sau này cụ Nguyễn Thị Đ và cụ Nguyễn Thị K (Là bác họ bà) xin phép đi lại căn nhà cũ để thắp hương các cụ nên bà chỉ đồng ý cho 2 cụ đi lại thắp hương chứ không được sử dụng thường xuyên.

Ngày 20/12/1996, bố mẹ bà viết giấy tặng cho bà toàn bộ diện tích nhà đất tại địa chỉ số D, tổ A (Nay là số 9 và 11 ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội).

Năm 2004 Ủy ban nhân dân phường L xác nhận nguồn gốc đất và đề nghị Ủy ban nhân dân quận Đ3 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho vợ chồng bà. Ngày 05/11/2004 Ủy ban nhân dân quận Đ ra Quyết định số 2892 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho 25 gia đình, cá nhân ở phường L trong đó có gia đình bà.

Khoảng tháng 2/2013 ông Nguyễn Song H (Là cháu ruột cụ Nguyễn Thị K) chuyển đến căn nhà cũ giáp với căn nhà vợ chồng bà đang ở nằm trên phần diện tích đất bố mẹ bà để lại. Ông H đã tự ý mở cổng chuyển đồ đạc vào. Khoảng tháng 7/2013 gia đình ông H tự ý sửa chữa căn nhà cũ. Gia đình bà đã nhiều lần yêu cầu ông H phải trả lại căn nhà cũ cho bà. Ngày 04/3/2013 Ủy ban nhân dân phường L tổ chức hoà giải, gia đình bà đã yêu cầu ông H thanh toán 720.000.000 đồng nhưng ông H chỉ đồng ý thanh toán 500.000.000 đồng, nhưng sau đó ông H không đồng ý thanh toán tiền cho bà.

Nay bà yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc ông H phải trả lại toàn bộ nhà đất tại địa chỉ số I ngõ A ngách A đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội cho bà và nhất trí hỗ trợ ông H phần tiền đã bỏ ra sửa chữa nhà.

* Tại các biên bản lời khai tại Tòa Bị đơn do người đại diện theo ủy quyền trình bày: Nguồn gốc nhà đất trước đây là của cụ tổ bên ngoại gia đình ông để lại. Cụ tổ sinh ra 3 cụ gồm : Cụ cả là Nghiêm Thị B (Không rõ chết thời gian nào), có 03 người con là cụ Nguyễn Thị Đ, cụ Nguyễn Văn Đ1 (Bố đẻ ông H) và cụ Nguyễn Thị Kim . Cụ thứ hai (không rõ họ tên, không nhớ chết thời gian nào) sinh ra cụ Nguyễn Văn T5 (Bố bà N) và cụ Nguyễn Thị L (đã chết). Cụ thứ ba (đã chết) là mẹ cụ Nguyễn Văn Q1 và một người nữa đều đã mất tích từ năm 1951 không biết địa chỉ ở đâu.

Trên đất trước đây có 01 nhà thờ cấp 4 lợp ngói, diện tích khoảng 20m2 trên diện tích đất 60m2. Gia đình bà N, ông T ở diện tích bên cạnh khoảng 130m2. Năm 1992 vợ chồng ông H phá bỏ nhà thờ cũ, bỏ tiền xây nhà 1,5 tầng mới như hiện nay trên nền móng trước kia. Bức tường ngăn cách giữa nhà ông H và nhà bà N do gia đình bà N xây dựng, còn bức tường ngăn phía trước nhà ông H do gia đình ông H xây vào năm 1992.

Toàn bộ nhà đất tại số I ngõ A P Láng là được ông T5 (T6) chia trả 1 phần đất 60m2 cho cụ Nguyễn Thị Đ và cụ Nguyễn Thị K, sau đó cụ T5, cụ Kim T7 lại cho ông H được quyền sử dụng và có trách nhiệm trông nom, thờ cúng.

Nay ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Cụ Nguyễn Văn T5 (đã chết năm 2016) và cụ Nguyễn Thị S trình bày: Hai cụ là chủ sở hữu hợp pháp của diện tích 197m2, thửa đất số 47, tờ bản đồ số 6E-II-08. Các cụ đã xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 50m2. Hai cụ đã chia cho vợ chồng bà N sử dụng thể hiện bằng văn bản tặng cho có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường L. Về nguồn gốc đất: Cụ tổ Nghiêm Văn T8 (ông bà ngoại cụ T5) sinh được 03 người con: Cụ cả là Nghiêm Thị C (cụ Bếp T9) sinh ra cụ Nguyễn Văn Đ1 (đã chết) là bố đẻ ông H, bà Nguyễn Thị Đ (chết) và bà Nguyễn Thị Kim . Cụ thứ 2 là Nghiêm Văn Nguyên sinh ra cụ Nghiêm Văn Q2 (chết) và cụ Nghiêm Văn Q (đã viết giấy giao nhà cho cụ T5 năm 1953). Cụ thứ 3 là Nghiêm Thị B. Cụ T5 cho rằng từ năm 1953 cụ Nghiêm Văn Q là con trai dòng họ N2 đã viết giấy cho cụ thờ cúng tổ tiên. Gia đình cụ đã sống ổn định trên mảnh đất này liên tục từ năm 1953 đến nay mà không có tranh chấp nào. Ban đầu mảnh đất này chỉ là nhà tranh vách đất, đến năm 1963 gia đình cụ đã xây dựng lại. Gia đình ông H sử dụng nhà đất tại số I ngõ A ngách A Pháo Đài L là không hợp pháp.

Cụ Nguyễn Thị K (đã chết) có lời khai xác nhận không có giấy tờ gì liên quan đến thửa đất số 47, tờ bản đồ số 6E-II-08.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân quận Đ3, thành phố Hà Nội do người đại diện Đại diện theo ủy quyền trình bày: Uỷ ban nhân dân quận ra Quyết định số 5832/QĐ-UBND thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở mã số 10109412976 đã cấp tại quyết định số 2892/QĐ-UB ngày 05/11/2004 của UBND quận Đ3 là có căn cứ pháp lý, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Ủy ban nhân dân quận Đ3 yêu cầu bà N, ông T thi hành quyết định trên.

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 08/2016/DS-ST ngày 06/12/2016 của Toà án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Thiên T về yêu cầu gia đình ông Nguyễn Song H trả lại toàn bộ diện tích đất và nhà ở tại số I ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Xác nhận bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Thiên T có quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 47, tờ bản đồ số 6E-II-08 và sở hữu nhà ở và các tài sản liên quan đến đất ở tại địa chỉ số I ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thiên T liên hệ Văn phòng đăng ký đất đai để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N huỷ toàn bộ nội dung Quyết định số 5832/QĐ-UBND ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Giữ nguyên nội dung quyết định số 5832/QĐ-UBND ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 .

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bị đơn về quyền sở hữu đất ở và nhà ở thuộc thửa đất số 47, tờ bản đồ số 6E-II-08, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Song H, bà Trần Thị D, anh Nguyễn Hoàng M, chị Vũ Thị Lệ T4 phải trả toàn bộ diện tích đất ở và tài sản, nhà ở gắn liền với thửa đất tại địa chỉ số I ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội cho bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Thiên T.

Chấp nhận bà Nguyễn Thị N trả cho ông Nguyễn Song H số tiền 134.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Song H có đơn kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội có Quyết định kháng nghị bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Đ.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 70/2017/DSST ngày 08, 09/5/2017 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội đã xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Thiên T về yêu cầu gia đình ông Nguyễn Song H trả lại toàn bộ diện tích đất và nhà ở tại số I ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Ông Nguyễn Song H, bà Trần Thị D, anh Nguyễn Hoàng M, chị Vũ Thị Lệ T4 phải trả toàn bộ diện tích đất ở và tài sản, nhà ở gắn liền với thửa đất tại địa chỉ số I ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội cho bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Thiên T.

Bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thiên T có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Song H số tiền 134.000.000 đồng.

Giữ nguyên hiệu lực của Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mã số 10109412976 tại Quyết định số 2892/QĐ-UB ngày 05/11/2004 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 cấp cho bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thiên T.

Huỷ Quyết định số 5832/QĐ-UBND ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mã số 10109412976 tại Quyết định số 2892/QĐ-UB ngày 05/11/2004 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 cấp cho bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thiên T.

Không đồng ý với quyết định của bản án Dân sự phúc thẩm số 70/2017/DSST ngày 08, 09/5/2017 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội, ngày 04/12/2017 ông Nguyễn Song H có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đôc thẩm.

Ngày 05/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội ban hành Quyết định số 02/KNGĐT-VC1-DS Quyết định kháng nghị toàn bộ bản án Dân sự số 70/2017/DSST ngày 08, 09/5/2017 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm trên của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 68/2018/DS-GĐT ngày 25/10/2018 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xử:

Huỷ toàn bộ bản án Dân sự phúc thẩm số 70/2017/DSST ngày 08, 09/5/2017 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội và bản án Dân sự sơ thẩm số 08/2016/DS-ST ngày 06/12/2016 của Toà án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội ; Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội đã xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thiên T.

Giữ nguyên Quyết định số 5832/QĐ-UBND ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 .

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 06/03/2024 Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự thống nhất xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác để nộp cho Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích nội dung vụ án. Vị đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm; Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

+ Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự, nhưng tại phiên tòa hôm nay những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân quận Đ3 ; chị Vũ Thị Lệ T4; cháu Nguyễn Đức N1 đều vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều xác nhận nguồn gốc thửa đất số 47, tờ bản đồ số 6E-II-08, địa chỉ phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội là do tổ tiên để lại nhưng không biết để lại từ đời nào, các cụ cố đều đã mất từ lâu, không rõ mất năm nào. Các đương sự cũng không xuất trình được các tài liệu chứng cứ chứng minh nhà đất đang tranh chấp là của các cụ cố để lại.

Theo cụ Nguyễn Văn T5 (Bố đẻ bà N) trình bày: nguồn gốc nhà đất là do cụ Nghiêm Văn Q (Là con trai dòng họ N2) quản lý, sử dụng. Năm 1953 cụ Q viết giấy giao lại nhà đất cho cụ T5 trông nom, thờ cúng tổ tiên. Ngoài giấy viết tay, cụ Q không để lại giấy tờ nào chứng minh nhà đất thuộc quyền sở hữu của cụ Q.

Bà N trình bày : khoảng tháng 02/2013, khi gia đình bà đi vắng, ông H đã tự ý mở cổng và chuyển đồ vào nhà đất tại số I ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội, đến tháng 7 năm 2013 gia đình ông H tự ý sửa chữa, xây dựng trên nền móng nhà cấp 4 cũ mà bà nội bà ở trước đây.

Ông H trình bày: năm 1991 khi biết cụ T5 chia đất cho các con, cụ K, cụ Đ đã yêu cầu cụ T5 chia trả một phần đất để thờ cúng tổ tiên. Năm 1992 các cụ T5, K, Đ đã thoả thuận cụ T5 trả cho cụ K, cụ Đ phần đất khoảng 60m2 nhưng không có văn bản giấy tờ. Sau đó cụ K, cụ Đ để lại đất cho ông H để thờ cúng. Năm 1992 ông đã phá nhà cũ, xây nhà mới và ở từ đó đến nay. Ranh giới giữa 2 phần đất của gia đình ông và gia đình bà N vẫn có bức tường ngăn do gia đình bà N xây dựng.

Xét thấy lời khai của ông H phù hợp với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, phù hợp với xác nhận của ông Đỗ Gia N3 (Là thợ xây dựng) có xây dựng nhà cho ông H tại số I ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội từ năm 1992, hoàn thành tháng 02/1993 và phù hợp với biên lai thu thuế nhà đất, hợp đồng lắp đặt công tơ điện và sử dụng nước của gia đình ông H từ năm 2004 cũng như kết quả xác minh của Thanh tra quận Đ, kết quả giải quyết khiếu nại trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân quận Đ3 của gia đình bà N. Hơn nữa quá trình giải quyết vụ án bà N, ông T đã thừa nhận trước đây thửa đất tại địa chỉ số I, ngõ A ngách A đường P có căn nhà cấp 4 cụ Đ, cụ Kim thường hay đi lại để thờ cúng; Gia đình cụ T5 và gia đình bà N, ông T sinh sống, xây nhà ở thửa đất bên cạnh tại địa chỉ số A ngõ A ngách A đường P. Tại biên bản phiên tòa ngày 05/12/2016 bà N còn khai : «... Trước đây căn nhà này là một căn nhà hoang vu không ai ở, tôi có hỏi bố tôi thì bố tôi trả lời rằng bà K, bà Đ sửa chữa lại để thờ cúng. Từ năm 1993 đến 2013 ngôi nhà để trống, có thời gian bà K, bà Đ cho người đến thuê ở trọ... ».

Mặt khác quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay bà N cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh nhà đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của cụ Nghiêm Văn Q cũng như không có căn cứ xác định chữ viết trên giấy tờ trông nom nhà đất là của cụ Q và cũng không có căn cứ xác định cụ Q uỷ quyền cho cụ T5 trông nom quản lý nhà đất nào.

Mặt khác, tại mục 3 kết luận số 02/KL-TTr ngày 04/3/2014 của Thanh tra Ủy ban nhân dân thành phố H thể hiện : « ... Ngày 12/12/2013, Thanh tra quận xác minh hiện trạng sử dụng nhà đất hộ gia đình ông Nguyễn Song H tại số I ngách A phố P, phường L, đại diện tổ dân phố xác nhận: thực tế hộ gia đình ông Nguyễn Song H đã ăn ở ổn định tại địa chỉ này từ những năm 1992 đến nay. ».

Tại khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013 quy định : « 2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nuwowics có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ».

Từ những căn cứ trên Tòa án cấp sơ thẩm xác định gia đình ông H đã ăn ở thường xuyên tại số I, tổ A ngõ A ngách A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội từ năm 1992 cho đến nay là có căn cứ và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N là phù hợp với quy định của pháp luật.

* Đối với yêu cầu huỷ Quyết định số 5832/QĐ-UBND ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 : Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, ông H có đơn gửi đến Ủy ban nhân dân quận Đ3 đề nghị xem xét lại việc cấp sổ đỏ đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 6E-II-08. Sau khi xem xét đơn đề nghị của ông H, ngày 04/3/2014 Thanh tra quận Đ đã có kết luận và kiến nghị UBND quận Đ ban hành quyết định thu hồi quyết định số 2892/QĐ-UB ngày 05/11/2004 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 .

Ngày 05/11/2004, UBND quận Đ3 ra Quyết định số 2892 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho 25 gia đình, cá nhân ở phường L trong đó có gia đình bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thiên T.

Ngày 12/8/2014, Ủy ban nhân dân quận Đ3 ban hành quyết định số 5832/QĐ-UBND thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở mã số 10109412976 đã cấp tại quyết định số 2892/QĐ-UB ngày 05/11/2004 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 trên cơ sở kiến nghị của Thanh tra quận Đ .

Xét thấy, các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện khi kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N, ông T chỉ cung cấp giấy tặng cho nhà đất của bố mẹ bà N là cụ Nguyễn Văn T5, cụ Nguyễn Thị S, bà N không cung cấp bất cứ giấy tờ tài liệu chứng minh về nguồn gốc nhà đất.

Xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân quận Đ3 đã vi phạm trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không xác minh làm rõ nguồn gốc và tình trạng nhà đất dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N, ông T cả phần diện tích đất ông H đang sử dụng. Việc Ủy ban nhân dân quận Đ3 ra Quyết định số 5832/QĐ-UBND ngày 12/8/2014 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở mã số 10109412976 tại Quyết định số 2892/QĐ-UB ngày 05/11/2004 của UBND quận Đ3 cấp cho bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thiên T là đúng quy định của pháp luật. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà N, ông T về việc yêu cầu huỷ Quyết định số 5832/QĐ-UBND ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên giữ nguyên quyết định số 5832/QĐ-UBND ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân quận Đ3 là không đúng bởi lẽ việc không thuộc thẩm quyền. Do vậy cần phải sửa về cách tuyên của bản án sơ thẩm.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nên được chấp nhận.

Về án phí: Do bà Nguyễn Thị N là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí cho bà N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, 220; 296; Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 59, 101, 170, 203 của Luật Đất đai năm 2013 ;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí.

Xử:

  1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội.
  2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là bà nguyễn Thị N và ông Nguyễn Thiên T.
  3. Về án phí:Miễn toàn bộ án phí cho ông Nguyễn Thiên T, bà Nguyễn Thị N. Hoàn trả bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thiên T số tiền 140.700.000 (Một trăm bốn mươi triệu bảy trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền thi hành án số 2622 ngày 12/10/2017, biên lai thu tiền số 4180 ngày 28/6/2017 và biên lai thu tiền số 4179 ngày 28/6/2017 của của Chi cục thi hành án dân sự quận Đ, thành phố Hà Nội.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - TAND quận Đ;
  • - Chi cục THADS quận Đ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN

Ngô Tuyết Băng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 700/2024/DS-PT ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng nhà ở và đất ở.

  • Số bản án: 700/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng nhà ở và đất ở.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng nhà ở và đất ở giữa nguyên đơn Nguyễn Thị N và bị đơn Nguyễn Song H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger