|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2023/DS-PT Ngày 30/11/2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang
Các Thẩm phán: Ông Hàng Lâm Viên và bà Trần Thị Dịu
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2023/TLPT-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 70/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H (Quyền), sinh năm 1974 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Bà Phạm Thị L (Gái), sinh năm 1968 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Ngọc L1, sinh năm 1993 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người làm chứng:
- Bà Huỳnh Thị L2, sinh năm 1967 (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972 ( Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị L3 ( Bé E), sinh năm 1972 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Do có quen biết nhau nên bà Phạm Thị L có tới nhà vay tiền của bà rất nhiều lần trong tháng 8/2022. Từ ngày 16/8/2022 đến ngày 18/8/2022 bà L và bà Huỳnh Thị L2 vay của bà 07 lần (có ngày vay 03 đến 04 lần) số tiền là 60.000.000 đồng, trong đó bà L vay 45.000.000 đồng; Bà L2 vay của bà giùm bà L số tiền 15.000.000 đồng, số tiền này bà và bà L, bà L2 đã thỏa thuận và thống nhất là bà L vay của bà, không liên quan đến bà L2 nữa. Bà L nói vay trong vòng 01 tuần, bán được đất thì trả tiền cho bà. Những lần vay này hai bên thống nhất lập “Giấy mượn tiền” ghi ngày 18/8/2022, thời gian vay là 02 tháng; lãi suất không ghi trong “Giấy mượn tiền” này mà chỉ nói bằng lời nói giữa hai bên là cứ 1.000.000 đồng mỗi ngày bà L trả tiền lãi cho bà là 10.000 đồng. Bà L đã trả lãi từ ngày 18 đến ngày 23 tháng 8 năm 2022 được số tiền lãi là 3.600.000 đồng rồi không trả tiền gốc và lãi cho bà nữa.
Vào ngày 23/8/2022, bà L đến nói với bà “Miếng đất định bán rồi trả tiền vay của bà nêu trên người mua chưa chồng tiền do đang có tranh chấp, bây giờ kêu bán một miếng đất khác cho con gái chị (Phạm Thị Ngọc L1), em cứ cho chị vay đi trong vòng 01 tháng chị sẽ trả lại”. Tuy nhiên, từ đó đến nay bà L không trả tiền lãi và gốc cho bà.
Ngoài ra, từ ngày 20/8/2022 cứ cách 01 đến 02 ngày, bà Phạm Thị L vay của bà từ 1.600.000 đồng, 10.000.000 đồng, 20.000.000 đồng để bà L đóng cho một số người mà bà L nhờ bà đi đóng giùm, cụ thể như sau:
Tiền vay của bà, bà L nhờ bà đóng cho ông H1: Ngày 23/8/2022, bà L vay của bà 800.000 đồng.
Tiền vay của bà, bà L nhờ bà đóng cho ông T1: Ngày 24/8/2022, bà L vay của bà 20.000.000 đồng. Ngày 25/8/2022, bà L vay của bà 10.000.000 đồng. Ngày 28/8/2022, bà L vay của bà 10.000.000 đồng. Ngày 10/9/2022, bà L vay của bà 10.000.000 đồng.
Tiền vay của bà, bà L nhờ bà đóng cho mẹ con bà X: Ngày 20/8/2022, bà L vay của bà 1.400.000 đồng. Ngày 27/8/2022, bà L vay của bà 1.500.000 đồng. Ngày 02/9/2022, bà L vay của bà 1.400.000 đồng. Ngày 08/9/2022, bà L vay của bà 1.800.000 đồng. Ngày 14/9/2022, bà L vay của bà 1.400.000 đồng. Ngày 22/9/2022, bà L vay của bà 600.000 đồng. Ngày 27/9/2022, bà L vay của bà 1.400.000 đồng. Ngày 01/10/2022, bà L vay của bà 600.000 đồng. Ngày 08/10/2022, bà L vay của bà 1.400.000 đồng.
Tiền vay của bà, bà L nhờ bà đóng cho ông T2: Ngày 27/8/2022, bà L vay của bà 1.600.000 đồng. Ngày 28/8/2022, bà L vay của bà 1.600.000 đồng. Ngày 29/8/2022, bà L vay của bà 1.600.000 đồng. Ngày 01/9/2022, bà L vay của bà 1.600.000 đồng. Ngày 02/9/2022, bà L vay của bà 1.600.000 đồng. Ngày 08/9/2022, bà L vay của bà 1.600.000 đồng. Ngày 09/9/2022, bà L vay của bà 1.600.000 đồng. Ngày 10/9/2022, bà L vay của bà 1.600.000 đồng. Ngày 15/9/2022, bà L vay của bà 3.200.000 đồng.
Những lần vay tiền của bà nêu trên thì bà L tới nhà bà hỏi vay tiền rồi nhờ bà đi đóng cho ông T1, ông T2, ông H1 và mẹ con bà X. Bà không biết họ và tên thật, năm sinh, địa chỉ của ông T1, ông T2, ông H1 và mẹ con bà X vì mỗi lần bà đi đóng tiền cho họ giùm bà L thì bà L đã điện thoại trước cho họ và hẹn gặp ở ngã 5 P hoặc một số nơi khác.
Ngoài ra bà L còn vay của bà số tiền, cụ thể như sau: Ngày 31/8/2022, bà L vay của bà 7.000.000 đồng. Ngày 15/9/2022, bà L vay của bà 5.000.000 đồng. Ngày 20/9/2022, bà L vay của bà 7.500.000 đồng để mua xe đạp điện. Ngày 22/9/2022, bà L vay của bà 7.000.000 đồng.
Ngày nào thì bà không nhớ rõ, bà L có đưa cho bà 1.000.000 đồng để nhờ bà trả lãi cho ông T1 thì có con nợ của bà L đến đòi nên bà L lấy lại số tiền này mà trước đó mới đưa cho bà để trả người kia.
Ngày nào thì bà không nhớ rõ, bà L vay của bà 1.000.000 đồng để đóng tiền điện, tiền nước.
Ngoài ra bà L còn vay của bà một số ngày khác nhưng bà không nhớ rõ ngày và việc vay tiền của bà để bà L làm công việc gì là 4.800.000 đồng.
Ngày nào thì bà không nhớ, bà L vay của bà 1.400.000 đồng.
Ngày nào thì bà không nhớ, bà L vay của bà 8.000.000 đồng, nói vay đỡ 01 đến 02 ngày thì trả nhưng không trả.
Những lần bà L vay tiền của bà nêu trên thì mỗi lần bà L vay, bà tự ghi vào sổ để theo dõi và có ghi vào mặt sau của “Giấy mượn tiền” ghi ngày 18/8/2022 chứ hai bên không lập Giấy mượn tiền, không có ký xác nhận của bà L nhưng có bà Huỳnh Thị L2, Nguyễn Thị L3, bà Nguyễn Thị T làm chứng.
Tổng số tiền 121.000.000 đồng bà L vay của bà nêu trên hai bên thỏa thuận bằng lời nói cứ 1.000.000 đồng thì 01 ngày bà L trả cho bà 10.000 đồng tiền lãi. Tuy nhiên từ khi vay đến nay số tiền gốc và lãi, bà L đều chưa trả cho bà đồng nào.
Như vậy, tổng cộng bà L vay của bà số tiền 181.000.000 đồng. Bà đã đòi nhiều lần nhưng bà L không trả và không gặp mặt cũng như không nghe điện thoại khi bà liên lạc. Vào ngày 15/10/2022, con gái của bà L là Phạm Thị Ngọc L1 mang theo một tờ giấy ghi nội dung bà cho bà L vay số tiền 181.000.000 đồng và đưa cho bà. Tờ giấy này có chữ ký của bà tại mục Bên A (do bà L1 nói bà ký) và có chữ ký của bà L, ông Phạm Đ là chồng của bà L và Phạm Thị Ngọc L1 là con gái ruột của bà L; các chữ ký bên mục B này bà không biết ông Đ và bà L ký lúc nào. Ông Phạm Đ và bà Phạm Thị Ngọc L1 không vay tiền của bà, chỉ có bà L vay tiền của bà. Do bà L không chịu trả tiền cho bà nên bà khởi kiện tại Tòa án, yêu cầu bà L trả số tiền 181.000.000 đồng, ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa Bị đơn là bà Phạm Thị L trình bày:
Bà bắt đầu vay tiền của bà Nguyễn Thị H từ cuối tháng giêng, đầu tháng 02 âm lịch năm 2021. Trong đó, bà vay bà H 50.000.000 đồng; bà Huỳnh Thị L2 có vay bà Nguyễn Thị H giùm bà số tiền 15.000.000 đồng nữa nên tổng cộng là 65.000.000 đồng. Số tiền vay khoảng 07 lần, cộng dồn vào chứ không phải 01 lần bà vay. Sau đó bà H có lập “Giấy mượn tiền” ngày 18/8/2022 và bà có ký nhận sau số căn cước công dân của bà. Bà không nhớ chính xác là “Giấy mượn tiền” ngày 18/8/2022 ghi nhận bà vay của bà H số tiền bao nhiêu. Đối với số tiền 15.000.000 đồng bà L2 vay của bà H giùm bà thì bà đã thỏa thuận với bà L2 và bà H nên số tiền này không liên quan đến bà L2 nữa mà bà sẽ là người có trách nhiệm trả cho bà H.
Bà không nhớ “Giấy mượn tiền” ngày 18/8/2022 có thỏa thuận thời hạn vay hay không, chỉ nhớ không thỏa thuận ghi nhận việc cho vay có lãi suất nhưng thực ra bà và bà H có thỏa thuận lãi suất bằng lời nói và bà bắt đầu trả lãi cho bà H cứ 05 ngày là 3.250.000 đồng và bắt đầu trả từ cuối tháng 02 đầu tháng 3 âm lịch năm 2021 đến cuối tháng 6 năm 2022 âm lịch của số tiền vay 65.000.000 đồng khoảng 16 tháng với số tiền là 312.000.000 đồng thì ngưng không trả lãi nên bà H mới cộng vào thành 181.000.000 đồng. Việc bà trả lãi cho bà H thì hai bên không làm giấy tờ gì cũng không có ai làm chứng nên bà không yêu cầu Tòa án tính lại lãi suất bà đã trả cho bà H.
Bà có vay tiền của ông H1, ông T2, ông T1, mẹ con bà X và có kể với các bà Huỳnh Thị L2, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị L3 là bà vay của bà H số tiền 65.000.000 đồng để trả cho ông T1, ông H1, ông T2 và mẹ con bà X. Bà không biết họ và tên thật, năm sinh, địa chỉ của ông T1, ông T2, ông H1 và mẹ con bà X vì mỗi lần bà trả tiền cho họ thì họ tới nhà bà để lấy.
Chồng của bà là ông Phạm Đ không liên quan đến số tiền bà vay của bà Nguyễn Thị H. Bà không chốt nợ với bà H và bà cũng không nói con gái của bà là Phạm Thị Ngọc L1 xuống thỏa thuận nội dung gì với bà H vì thời gian này bà đi làm thuê tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bà không nhớ ngày nhưng nhớ vào khoảng tháng 10/2022, con gái bà là L1 có điện thoại cho bà hỏi bà vay bà H số tiền bao nhiêu; khi bà nói vay 65.000.000 đồng thì L1 nói 02 ngày trước bà H nói L1 ghi nhận bà vay bà H 181.000.000 đồng. Bà không đồng ý nội dung này và có nói với L1 lên nói chuyện lại với bà H. Sau đó L1 nói với bà là L1 nói chuyện thì bà H nói “Mẹ mày vay sao mày biết”. Nay bà chỉ đồng ý trả cho bà H số tiền gốc bà đã vay là 65.000.000 đồng; không đồng ý trả cho bà H 181.000.000 đồng vì bà không vay số tiền này.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Ngọc L1 trình bày:
Theo bà được biết thì mẹ của bà là Phạm Thị L có vay của bà Nguyễn Thị H nhiều lần với số tiền tổng cộng là 65.000.000 đồng; cụ thể: Vào khoảng năm 2021 mẹ của bà có vay số tiền 50.000.000 đồng. Sau đó bà Huỳnh Thị L2 có vay bà H giùm mẹ của bà số tiền 15.000.000 đồng nữa nên tổng cộng là 65.000.000 đồng. Lãi suất mẹ của bà trả cho bà H là 65.000.000 đồng thì 05 ngày trả 3.250.000 đồng. Bà biết mẹ của bà đã trả tiền lãi cho bà H khoảng hơn 01 năm nhưng số tiền bao nhiêu thì bà không biết và cũng không rõ thời gian bắt đầu và kết thúc trả lãi.
Do bà H lấy lãi cao, đòi mẹ của bà nhiều lần và mẹ của bà phải đi làm thuê để có tiền trả nợ nên bà H yêu cầu bà xuống nhà bà H để thỏa thuận việc trả nợ của mẹ bà cho bà H. Ngày 15/10/2022, khi bà xuống thỏa thuận với bà H thì bà H nói mẹ của bà còn nợ bà H số tiền 181.000.000 đồng. Lúc này bà chưa điện thoại được cho mẹ của bà để xác nhận số tiền trên nhưng do bà H nói nhiều quá và còn giữ cả căn cước công dân của mẹ bà nên bà đã phải viết giấy ghi nhận việc bà H cho mẹ của bà vay số tiền 181.000.000 đồng; nội dung thì do bà H đọc, bà ghi và ký tên. Bà H còn bắt bà phải ký và ghi họ và tên của cha mẹ bà là ông Phạm Đ và bà Phạm Thị L nên bà đã tự ký và ghi họ và tên của bà, của cha mẹ bà tại mục bên B. Sau đó bà đưa “Tờ giấy ghi ngày 15/10/2022 được viết bằng mực bút bi màu xanh” này cho bà H.
Khoảng 02 ngày sau bà liên lạc được với mẹ là bà Phạm Thị L thì bà L nói với bà là chỉ vay 65.000.000 đồng, không phải vay 181.000.000 đồng. Ngày hôm sau (tức ngày 18/10/2022), bà đi làm về và ghé nhà bà H nói chuyện với bà H thì bà H nói “Mẹ mày vay nhiều lần sao mày biết?”. Vì vậy bà để mẹ bà và bà H tự giải quyết với nhau.
Nay bà H khởi kiện mẹ bà tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T đề nghị trả cho bà H số tiền 181.000.000 đồng thì đây là việc của mẹ bà và bà H, bà không có ý kiến. Bà không có quyền lợi và nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án này nữa bởi số tiền mà bà H khởi kiện mẹ bà là bà L thì không liên quan gì đến bà; bà không vay tiền của bà H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;Các Điều 463; 466; 468; 470; 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 24; 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
Buộc bà Phạm Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền nợ gốc đã vay là 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc buộc bà Phạm Thị L phải trả số tiền 121.000.000 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí dân sự sơ thẩm, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, buộc bà Nguyễn Thị L4 phải trả cho bà số tiền 181.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, chỉ yêu cầu bà L4 phải trả cho bà số tiền 120.000.000 đồng. Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Bà H cho rằng bản án sơ thẩm tuyên buộc bà L4 phải trả cho bà số tiền 65.000.000 đồng là không đúng, vì số tiền bà L4 nợ bà là 181.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bà H2 thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L4 phải trả cho bà số tiền 120.000.000 đồng và được bị đơn chấp nhận, vì vậy cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS 2015 sửa bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; vụ án thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T là có căn cứ, đúng quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự .
Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi một phần nội dung kháng cáo, việc thay đổi nội dung kháng cáo của nguyên đơn không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu. Căn cứ khoản 2 điều 284 Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi nội dung kháng cáo.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Nguyễn Thị H yêu cầu bà Phạm Thị L phải trả số tiền gốc đã vay là 181.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Chứng cứ bà H đưa ra là “Giấy mượn tiền” ghi ngày 18/8/2022 với số tiền vay 60.000.000 đồng và “Tờ giấy ghi ngày 15/10/2022 do bà Phạm Thị Ngọc L1 là con gái của bà L viết với số tiền vay 181.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H chỉ yêu cầu bà L trả số tiền là 120.000.000 đồng cho các khoản vay theo 02 giấy vay nợ lập ngày 18/8/2022 và ngày 15/10/2022. Bà L đồng ý trả cho bà H số tiền 120.000.000 đồng. Xét sự thỏa thuận của nguyên đơn, bị đơn là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, vì vậy cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T.
[3] Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên tiền án phí dân sự sơ thẩm được sửa lại cho phù hợp.
Bà Phạm Thị L phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận: 120.000.000 đồng x 5% =6.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, Điều 246; Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
Bà Phạm Thị L (Gái) có nghĩa vụ phải trả cho bà Nguyễn Thị H (Quyền) số tiền nợ vay là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phạm Thị L (Gái) phải chịu 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.525.000 đồng (Bốn triệu năm trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005209 ngày 12/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả cho Bà Nguyễn Thị H số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005739 ngày 30/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 30/11/2023).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Trang |
|
CÁC THẨM PHÁN Ngô Thị Trang Trần Thị Dịu |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Trang |
Bản án số 70/2023/DS-PT ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 70/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Phạm Thị L
