Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày: 30/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đức

Ông Đỗ Hoàng Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Hương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Huy Lệ - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu H, sinh năm 1973. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Hữu T (đã chết); Con bà: Vũ Thị K, sinh năm 1940. Có vợ là: Nguyễn Thị M, sinh năm 1972, và 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1997. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 14/3/2024, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị L, sinh năm 1973. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn B, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 05/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Trọng H1 (đã chết), Con bà: Dương Thị L1, sinh năm 1941. Có chồng là: Nguyễn Công T1, sinh năm 1962, và 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1998.

Tiền án: Tại bản án số 03/2023/HSST ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt Luyến 30 triệu đồng về tội: “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, án phí 200.000 đồng. Ngày 23/3/2023 nộp xong án phí, ngày 15/12/2023 nộp xong tiền phạt (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 49/QĐ-XPHC ngày 15/01/2020 của Công an huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt Luyến 1.500.000 đồng về hành vi: “Đánh bạc”. Ngày 15/01/2020 nộp xong tiền phạt.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 14/3/2024, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

3. Trịnh Xuân Đ, sinh năm 1982. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 9/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trịnh Đức T2, sinh năm 1955; Con bà: Lê Thị L2, sinh năm 1958. Có vợ là: Lê Thị H2, sinh năm 1985, và 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 04/2020/HSST ngày 10/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đ 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng, phạt bổ sung 10 triệu đồng về tội: “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, án phí 200.000 đồng. Ngày 12/3/2020 nộp xong tiền phạt và án phí; ngày 10/3/2021 chấp hành xong thời gian thử thách (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 14/3/2024, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

4. Lê Đình S, sinh năm 1980. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Đình B, sinh năm 1946; Con bà: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1948. Có vợ là: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1987, và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 14/3/2024, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

5. Trịnh Đức V, sinh năm 1987. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 10/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trịnh Đức T4 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị K1, sinh năm 1961. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 14/3/2024, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

6. Nguyễn Hữu L3, sinh năm 1981. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Hữu L4 (đã chết); Con bà: Lê Thị H4, sinh năm 1957. Có vợ là: Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1987, và 04 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 14/3/2024, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 40 phút ngày 06/3/2024, lực lượng Công an thị xã T bắt quả tang tại phòng ngủ tầng 02 nhà Nguyễn Hữu H, trú tại thôn Đ, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh các đối tượng đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh S1 được thua bằng tiền gồm: Lê Đình S, Nguyễn Hữu L3, Trịnh Đức V, Trịnh Xuân Đ, Nguyễn Thị L. Có mặt tại địa điểm trên khi lực lượng Công an bắt quả tang còn có Nguyễn Hữu H (là chủ nhà). Khi lực lượng Công an bắt quả tang, một số đối tượng bỏ chạy và cất giấu tiền đánh bạc trong người.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + 01 chiếu nhựa màu xanh; 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 quân (01 bộ mặt lưng màu đỏ, 01 bộ mặt lưng màu vàng có hình mặt người).
  • + T5 tại chiếu bạc số tiền 19.100.000 đồng (gồm: 1.400.000 đồng trên mặt chiếu tại vị trí S ngồi đánh bạc; 7.550.000 đồng trên mặt chiếu và 9.800.000 đồng dưới chiếu vị trí L ngồi đánh bạc; 350.000 đồng trong hộp sắt màu đỏ cạnh chiếu).
  • + T5 tại gầm giường phòng ngủ bên cạnh nơi các đối tượng đánh bạc (phòng S chạy vào để trốn) số tiền 11.000.000 đồng.
  • + Thu trên người các đối tượng tổng số tiền 21.510.000 đồng (gồm: 5.000.000 đồng tại túi quần phía trước bên trái của S, 2.500.000 đồng tại túi quần phía trước bên phải của S; 4.500.000 đồng tại túi quần phía trước bên trái của L3; 1.250.000 đồng tại túi quần phía trước bên trái của V; 500.000 đồng trong túi xách màu đen của L; 460.000 đồng trong ví da màu đen của H; 7.300.000 đồng tại túi quần phía sau bên trái của Đ). Tổng số tiền thu giữ là 51.610.000 đồng.

Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 06/3/2024, khi Nguyễn Hữu H đang ở nhà thì Nguyễn Hữu L3, Trịnh Xuân Đ, Trịnh Đức V và Nguyễn Thị L đến chơi và ngồi uống nước tại phòng khách tầng 01. Sau đó Đ, L3, V, L rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh S1 được thua bằng tiền (không nhớ ai là người rủ) và bảo H cho đánh bạc tại nhà. H đồng ý và bảo mọi người đi lên phòng ngủ tầng 02 để đánh bạc. Khi lên tầng 02, H trải 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh ra nền nhà và lấy 02 bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở nhà ra cho các đối tượng sử dụng để đánh bạc. Sau đó mọi người ngồi xuống chiếu để đánh bạc, vị trí ngồi như sau: Bên trái Đ là L3, bên phải Đ là L, đối diện với Đ là V. Thống nhất cách thức chơi là đánh S1 được thua bằng tiền. Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia làm 04 phần, mỗi người được chia 10 quân bài, ai được cái sẽ đánh trước. Quy định quân bài 2 là lớn nhất, sau đó đến quân bài A, sau đó từ K đến 3. Q bài lớn sẽ bắt được quân bài bé. Ai đánh hết số quân bài trên tay đầu tiên là thắng, những người còn lại đếm số quân bài mình chưa đánh được để trả tiền cho người thắng, mỗi quân bài chưa đánh được phải trả 50.000 đồng. Ai bị lủng (tức là có người về nhất mà người chơi chưa đánh được quân bài nào) thì phải trả cho người về nhất 800.000 đồng. Ai khi lên bài được 04 quân 2; 05 đôi (10 quân bài có 05 đôi giống nhau về điểm), 10 quân đỏ, 10 quân đen thì mỗi người chơi phải trả 800.000 đồng. Ai có tứ quý (04 quân bài cùng điểm) bắt được 2 thì người bị bắt 2 phải trả 1.000.000 đồng. Ai báo sâm (tức người báo sâm đánh hết 10 quân bài mà không ai chặn được) thì mỗi người chơi phải trả 1.000.000 đồng; người báo sâm mà có người chặn được thì người báo sâm phải trả cho người chặn được 4.800.000 đồng. Mỗi người báo sâm hay bắt được sâm thì phải bỏ số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng để vào hộp sắt màu đỏ cạnh chiếu cho chủ nhà. Khoảng 14 giờ cùng ngày khi mọi người đang đánh bạc thì Lê Đình S đến và ngồi xem. Sau đó Đ không chơi nữa thì S ngồi thay vị trí của Đ tham gia đánh bạc cùng mọi người. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã T bắt quả tang, thu giữ vật chứng phạm tội như nêu ở trên.

* Về số tiền sử dụng để đánh bạc:

Nguyễn Hữu H là chủ nhà, không tham gia đánh bạc nhưng đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình, đồng thời H là người trải chiếu, lấy 02 bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở nhà cho các đối tượng đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, các đối tượng được sâm đã bỏ ra số tiền 350.000 đồng để vào hộp sắt cho chủ nhà. Tuy nhiên do đang đánh bạc thì bị bắt quả tang nên H chưa được hưởng số tiền này. Số tiền 460.000 đồng bị thu giữ H không sử dụng để đánh bạc, không cho ai vay để đánh bạc.

Nguyễn Thị L mang theo số tiền 15.700.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc. Ban đầu L lấy ra số tiền 15.200.000 đồng, còn 500.000 cất ở trong túi xách, nếu chơi thua hết sẽ bỏ tiếp 500.000 đồng ra để chơi. Quá trình đánh bạc có ván thắng, ván thua. Khi lực lượng Công an bắt quả tang L đang thắng 2.150.000 đồng và bị thu giữ 7.550.000 đồng trên mặt chiếu, 9.800.000 đồng dưới chiếu tại vị trí L ngồi đánh bạc, 500.000 đồng trong túi xách. Tổng số 17.850.000 đồng là tiền bỏ ra để đánh bạc và tiền thắng bạc.

Trịnh Xuân Đ mang theo số tiền 6.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Đ thắng được số tiền 1.300.000 đồng. Khi S đến thì Đ không chơi nữa nhường vị trí cho S đánh bạc và ngồi ở ngoài xem. Khi lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía sau bên trái của Đ số tiền 7.300.000 đồng là tiền bỏ ra để đánh bạc và thắng bạc.

Lê Đình S mang theo số tiền 7.400.000 đồng. S bỏ ra 4.900.000 đồng sử dụng để đánh bạc, còn số tiền 2.500.000 đồng để ở túi quần phía trước bên phải S không sử dụng để đánh bạc (cất riêng sử dụng để chi tiêu cho gia đình). Nếu chơi thua hết số tiền bỏ ra ban đầu thì S cũng không sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc có ván thắng, ván thua. Khi lực lượng Công an bắt quả tang, S đang thắng 1.500.000 đồng. S bỏ chạy vào phòng ngủ bên cạnh và bị bắt giữ. Khi bỏ chạy S cầm 5.000.000 đồng cất ở túi quần phía trước bên trái và trên chiếu tại vị trí S ngồi đánh bạc còn số tiền 1.400.000 đồng. Tổng thu giữ 6.400.000 đồng là tiền S sử dụng để đánh bạc và tiền thắng bạc.

Trịnh Đức V mang theo số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, V bị thua số tiền 1.750.000 đồng, còn lại 1.250.000 đồng. Khi lực lượng Công an bắt quả tang, V cầm số tiền 1.250.000 đồng cất vào túi quần phía trước bên trái và bị thu giữ.

Nguyễn Hữu L3 mang theo số tiền 1.400.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Lưu thắng được số tiền 3.100.000 đồng. Khi lực lượng Công an bắt quả tang, L3 cầm số tiền 4.500.000 đồng là tiền bỏ ra để đánh bạc và thắng bạc cất vào túi quần phía trước bên trái và bị thu giữ.

Đối với số tiền 350.000 đồng thu giữ trong hộp sắt: Các đối tượng đánh bạc khai nhận đó là tiền những người được sâm bỏ vào để cho chủ nhà, tuy nhiên không nhớ cụ thể những ai đã bỏ tiền vào đó.

Đối với số tiền 11.000.000 đồng lực lượng Công an thu giữ tại gầm giường trong phòng ngủ bên cạnh (là phòng S chạy vào). Quá trình điều tra xác định phòng ngủ đó là phòng của chị Ngô Thị H5, sinh năm 1994 (là con dâu của H). Số tiền 11.000.000 đồng là tiền mừng đầy tháng con của chị H5 do chị H5 mới sinh con, chị H5 cất dưới đệm và bị rơi xuống gầm giường, không phải là tiền đánh bạc.

Tổng số tiền thu giữ là 51.610.000 đồng. Trong đó số tiền sử dụng để đánh bạc là 37.650.000 đồng (gồm thu trên chiếu bạc 19.100.000 đồng; thu trên người các đối tượng khai nhận sử dụng để đánh bạc 18.550.000 đồng). Số tiền không sử dụng để đánh bạc là 13.960.000 đồng (gồm 11.000.000 đồng là tiền của chị H5; 460.000 đồng trong ví của H; 2.500.000 đồng trong túi quần phía trước bên phải của S).

Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 69/CTr-VKS-TT ngày 25/6/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Hữu H về tội “Gá Bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Truy tố Nguyễn Thị L, Trịnh Xuân Đ, Lê Đình S, Trịnh Đức V, Nguyễn Hữu L3 về tội “Đánh Bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo H thừa nhận bị cáo đã cho các đối tượng L, L3, Đ, S, V đánh bạc tại nhà bị cáo, bản thân bị cáo có chải chiếu và chuẩn bị 02 bộ bài tú lơ khơ để cho các đối tượng sử dụng đánh bạc. Các bị cáo L, L3, V, S, Đ thừa nhận đã tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi Sâm tại nhà H vào ngày 06/3/2024, khi đánh bạc các bị cáo có quy định ai được S1 thì sẽ bỏ ra từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng cho vào hộp sắt để cho chủ nhà, từ lúc chơi đến khi bị bắt các bị cáo đã bỏ tiền vào hộp sắt cho chủ nhà là 350.000 đồng. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Căn cứ vào hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Gá Bạc”. Các bị cáo Nguyễn Thị L, Trịnh Xuân Đ, Nguyễn Hữu L3, Trịnh Đức V, Lê Đình S phạm tội “Đánh Bạc”.

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H từ 18 tháng tù đến 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 44 tháng. Phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 14 tháng tù đến 18 tháng tù. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Xuân Đ từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Đức V, Lê Đình S, Nguyễn Hữu L3 mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 37.650.000đ là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu H 460.000 đồng song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Trả lại bị cáo Lê Đình S 2.500.000 đồng song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Trả lại bị cáo Nguyễn Thị L 01 túi sách màu đen song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếu nhựa màu xanh, 02 bộ tú lơ khơ loại 52 quân, 01 hộp sắt màu đỏ, 01 ví da màu đen.

Sau khi nghe quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, đối đáp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 14 giờ ngày 06/3/2024, tại phòng ngủ tầng 02 nhà Nguyễn Hữu H, các đối tượng đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh S1 được thua bằng tiền gồm: Nguyễn Thị L, Trịnh Xuân Đ, Lê Đình S, Trịnh Đức V, Nguyễn Hữu L3. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 19.100.000 đồng và toàn bộ công cụ, dụng cụ sử dụng để đánh bạc; ngoài ra lực lượng Công an còn thu giữ trên người các đối tượng số tiền khai nhận sử dụng để đánh bạc là 18.550.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 37.650.000 đồng. Nguyễn Hữu H là chủ nhà, không tham gia đánh bạc nhưng đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình, đồng thời H là người chải chiếu, lấy 02 bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở nhà cho các đối tượng đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, các đối tượng được S1 đã bỏ ra số tiền 350.000 đồng để vào hộp sắt cho chủ nhà.

Bởi vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu H đã phạm vào tội “Gá bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị L, Trịnh Xuân Đ, Lê Đình S, Trịnh Đức V, Nguyễn Hữu L3 đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xét xử bị cáo Nguyễn Hữu H theo khoản 1 Điều 322, các bị cáo L, Đ, S, L3, V theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới an toàn công cộng, trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đều nhận thức được mọi hành vi chứa chấp đánh bạc và đánh bạc là vi phạm pháp luật, song với mục đích nhằm thu lợi bất chính, các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng đến nhiều gia đình bởi đã lôi kéo nhiều người tham gia, chẳng những làm gia tăng tệ nạn cờ bạc trong cộng đồng dân cư, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường của nhiều gia đình khi có con em, người thân đam mê cờ bạc và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Xét thấy cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều cùng thống nhất thực hiện hành vi phạm tội, không có người đứng ra tổ chức hay có sự phân công chuẩn bị từ trước.

Xét vai trò của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Nguyễn Hữu H là người giữ vai trò chính trong vụ án bởi bị cáo là chủ nhà đã đồng ý cho 05 đối tượng vào nhà mình đánh bạc với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 37.650.000 đồng vì vậy khi quyết định hình phạt cần phải có mức hình phạt đối với bị cáo H cao hơn các bị cáo khác trong vụ án.

Đối với các bị cáo Nguyễn Thị L, Trịnh Xuân Đ, Trịnh Đức V, Nguyễn Hữu L3, Lê Đình S đều là những đối tượng tham gia đánh bạc nên các bị cáo có vai trò ngang nhau bởi vậy khi quyết định hình phạt cũng cần có mức hình phạt đối với các bị cáo với mức hình phạt tương xứng với hành vi các bị cáo thực hiện.

[4]. Xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Lê Đình S, Trịnh Đức V, Nguyễn Hữu Lưu k có tiền án, tiền sự.

Bị cáo Trịnh Xuân Đ vào ngày 10/01/2020 bị Toà án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 14 tháng, phạt bổ sung 10 triệu đồng về tội “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án, tính đến ngày phạm tội mới thì bị cáo đã đương nhiên được xoá án tích không bị coi là tiền án.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị L vào ngày 09/01/2023 bị Toà án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T) xử phạt 30 triệu đồng về tội “Đánh bạc”, ngày 15/12/2023 bị cáo nộp xong tiền phạt, tính đến ngày phạm tội mới bị cáo chưa được xoá án tích do vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Không những vậy về nhân thân của bị cáo vào ngày 15/01/2020 cũng đã bị Công an huyện T (nay là thị xã T) xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự do bị cáo phạm tội khi Bản án số 03/2023/HSST ngày 09/01/2023 của Toà án nhân dân huyện Thuận Thành chưa được xoá án tích.

Còn lại các bị cáo khác trong cùng vụ án không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đều khai báo thành khẩn vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Lê Đình S, Trịnh Đức V, Nguyễn Hữu L3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Trịnh Xuân Đ có thời gian phục vụ trong quân đội, đơn vị kho 852 Cục Q1 - T6, ngoài ra bị cáo có đóng góp ủng hộ quỹ chất độc da cam đioxin; bị cáo Nguyễn Hữu H có đóng góp ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa được UBND xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xác nhận. Vì vậy các bị cáo Đ, H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Căn cứ tính chất, hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt cách ly bị cáo L với đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo Nguyễn Hữu H xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo với đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.

Đối với bị cáo Trịnh Xuân Đ về nhân thân đã từng bị xét xử về hành vi “Đánh bạc” tuy nhiên bị cáo đã được đương nhiên xoá án tích, kể từ ngày được đương nhiên xoá án tích trong thời gian gần 02 năm bị cáo không vi phạm pháp luật, tham gia đánh bạc có mức độ bởi sau khi bị cáo thấy S đến thì bị cáo không chơi nữa mà nhường cho S tham gia vì vậy đối với bị cáo xét thấy vẫn đủ điều kiện để cho bị cáo tiếp tục được cải tạo tại địa phương mà không cần thiết phải cách ly bị cáo với đời sống xã hội.

Đối với các bị cáo Lê Đình S, Trịnh Đức V, Nguyễn Hữu L3 đều là những đối tượng phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng vì vậy xét thấy chỉ cần áp dụng loại hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ biện pháp để răn đe, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Thị L, Trịnh Xuân Đ để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Đối với các bị cáo Lê Đình S, Trịnh Đức V, Nguyễn Hữu L3 do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7]. Về vật chứng vụ án:

Đối với số tiền 37.650.000 đồng được xác định là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc do vậy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 460.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu H và số tiền 2.500.000 đồng thu giữ của bị cáo S, quá trình điều tra xác định số tiền trên của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy nay cần tuyên trả lại cho các bị cáo song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Đối với 01 túi sách màu đen thu giữ của bị cáo L, tại phiên toà bị cáo trình bày là đồ dùng bị cáo sử dụng để đựng vật dụng tư trang cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại bị cáo.

Đối với 01 chiếu nhựa màu xanh, 02 bộ tú lơ khơ loại 52 quân, 01 hộp sắt màu đỏ, 01 ví da màu đen thu giữ của bị cáo H không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền 11.000.000 đồng lực lượng Công an thu giữ tại gầm giường phòng ngủ bên cạnh nơi các đối tượng đánh bạc. Quá trình điều tra xác định là tiền của chị Ngô Thị H5 (con dâu bị cáo H), không phải tiền đánh bạc nên ngày 20/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã trả lại cho chị Ngô Thị H5 là phù hợp.

[8]. Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

* Liên quan trong vụ án:

Khi các đối tượng đánh bạc tại nhà Nguyễn Hữu H thì các thành viên khác trong gia đình H không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không xem xét xử lý là phù hợp.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Gá Bạc”. Các bị cáo Nguyễn Thị L, Trịnh Xuân Đ, Nguyễn Hữu L3, Trịnh Đức V, Lê Đình S phạm tội “Đánh Bạc".
    1. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/7/2024). Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu H 20.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.
    2. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 14/3/2024. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị L 10.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.
    3. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Xuân Đ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/7/2024). Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Xuân Đ 15.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.
    4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Đức V, Lê Đình S, Nguyễn Hữu L3 mỗi bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung Ngân sách nhà nước.
  2. Giao các bị cáo Nguyễn Hữu H, Trịnh Xuân Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  3. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  5. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 37.650.000₫ ( Ba mươi bẩy triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

    Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu H 460.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

    Trả lại bị cáo Lê Đình S 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

    Trả lại bị cáo Nguyễn Thị L 01 túi sách màu đen song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếu nhựa màu xanh, 02 bộ tú lơ khơ loại 52 quân,, 01 hộp sắt màu đỏ, 01 ví da màu đen.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/7/2024 giữa Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành).

  6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
  7. Mỗi bị cáo phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Xác nhận bị cáo Trịnh Xuân Đ đã nộp 10.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002362 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án thị xã Thuận Thành.

    Xác nhận bị cáo Nguyễn Hữu H đã nộp 20.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002363 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án thị xã Thuận Thành.

  8. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND thị xã Thuận Thành.
  • -Công an thị xã Thuận Thành.
  • -Chi cục THA dân sự thị xã Thuận Thành.
  • -Những người tham gia tố tụng.
  • -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về gá bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gá Bạc và Đánh Bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu H bị VKS truy tố tội "Gá bạc:; Nguyễn Thị L, Trịnh Xuân Đ, Lê Đình S, Nguyễn Hữu L3 bị truy tố tội "Đánh bạc.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger