Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30- 5- 2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Anh Thư

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
  2. Bà Vương Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 48/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QĐST- HNGĐ ngày 07/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: Số D, đường D, khu đô thị T, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lâm Văn T, sinh năm 1981; địa chỉ: Số D, đường D, khu đô thị T, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà L và ông Lâm Văn T tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2007, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95, quyển số 04 ngày 17/9/2007.

Sau khi kết hôn bà L va ông T về sống tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đến năm 2012, bà L và ông T chuyển đến sống tại khu đô thị T, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho đến nay. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng diễn ra êm ấm và 02 người có 01 con chung tên Lâm Trọng P, sinh ngày 03/3/2006. Tuy nhiên, đến năm 2020 mẫu thuẫn vợ chồng đã xảy ra và ngày càng nghiêm trọng, nguyên nhân chính dẫn đến mẫu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm gây ra cãi vã và ông T nhiều lần đánh bà L. Nay bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để yêu cầu giải quyết được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà L đồng ý để ông Lâm Văn T trực tiếp nuôi con chung là Lâm Trọng P, sinh ngày 03/3/2006 và bà L sẽ không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: bà L và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lâm Văn T được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự:

[1.1] Bà L khởi kiện ông T yêu cầu được ly hôn, ông T hiện đang trú tại khu đô thị T, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2] Ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, bà L có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà L và ông T theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Lâm Văn T tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2007, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95, quyển số 04 ngày 17/9/2007. Theo giấy đăng ký kết hôn bà L có tên họ là Trịnh Thị L1, sinh năm 1987, tuy nhiên theo xác nhận của UBND xã P B xác nhận bà Nguyễn Thị L,sinh năm 1988 và bà Trịnh Thị L1, sinh năm 1987 có chứng minh nhân dân số [...] do Công an tỉnh B cấp là cùng một người. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà L1 và ông T là hợp pháp.

[2.2] Quá trình tố tụng bà L1 xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng từ năm 2020 đến nay xảy ra nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, nên thường xuyên cãi nhau, nhiều khi ông T còn đánh bà L1. Bà L1 xác định hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với ông T.

Ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt, coi như từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L1.

Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng bà L1 và ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L1 được ly hôn với ông T.

[2.3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lâm Trọng P, sinh ngày 03/3/2006. Chị L1 đồng ý để ông T nuôi dưỡng. Xét, thời điểm xét xử cháu P đã thành niên (18 tuổi 02 tháng), bà L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Bà L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ :

  • Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn ông Lâm Văn T về việc tranh chấp ly hôn.

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L (Trịnh Thị L1) được ly hôn với ông Lâm Văn T (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95, quyển số 04 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 17/9/2007).

- Về con chung: Cháu Lâm Trọng P, sinh ngày 03/3/2006 đã thành niên, bà L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng không xem xét.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà L1 phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0004355 ngày 25/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Anh T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: niêm yết
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger