|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày 26-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Như
Bà Hoàng Thị Luyến
- Thư ký phiên toà: Ông Giàng A Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2024/TLST- HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn C; Sinh ngày 22/5/1979 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn A, sinh năm 1952 và bà Hoàng Thị B (Không xác định được năm sinh, đã chết); Bị cáo có vợ là Đèo Thị K, sinh năm 1980 (Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T2, tỉnh Phú Thọ) và có 03 con. Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/12/2023, tạm giam từ ngày 06/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt tại điểm cầu thành phần).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn Đ, sinh năm 1984, địa chỉ: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt).
Người làm chứng:
- Anh Hoàng Văn T. (Vắng mặt).
- Anh Lò Văn T1. (Vắng mặt).
- Anh Lò Văn D. (Vắng mặt).
1
- Anh Lò Văn H. (Vắng mặt).
- Anh Tòng Văn H1. (Vắng mặt).
* Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, gồm: Bị cáo: Lò Văn C. (Có mặt).
* Điểm cầu thành phần: Trung tâm T3 C1:
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C: Bà Nông Thị Minh H2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 27/12/2023, tại bản Pá Liềng, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn C gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch). Qua nói chuyện, Lò Văn C đã mua của người đàn ông này 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng mục đích để sử dụng và bán. Mua được H3, Lò Văn C mang về nhà tại bản Lun 1, xã T, huyện T. Đến khoảng 06 giờ ngày 28/12/2023, Lò Văn C lấy gói Heroine mua được ra chia thành 04 gói nhỏ (đều gói bằng mảnh giấy bạc từ vỏ bao thuốc lá). Sau khi chia xong Heroine, Lò Văn C lấy một gói và cấu một ít Heroine để sử dụng bằng hình thức hít (số H chưa sử dụng hết của gói này, Lò Văn C cất giấu dưới gối tại giường ngủ của C). Đối với 03 gói Heroine còn lại, Lò Văn C cất giấu vào túi áo khoác đang mặc.
Khoảng 07 giờ sáng ngày 28/12/2023, Lò Văn T1 (sinh năm 1982, trú tại bản N, xã M, huyện T) đến nhà Lò Văn C để ăn sáng. Sau đó, Lò Văn C cùng Lò Văn T1 chuẩn bị đi làm thì có Lò Văn Đ (sinh năm 1984) và Lò Văn D (sinh năm 1986), đều trú tại bản Ten Co Mư, xã T, huyện T đến nhà Lò Văn C. Lò Văn Đ hỏi mua 200.000 đồng Heroine và đưa cho C 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Lò Văn C nhận tiền rồi lấy 02 gói Heroine trong túi áo ra cùng số tiền thừa 300.000 đồng đưa cho Lò Văn Đ. Mua được H3, Lò Văn Đ và Lò Văn D ngồi ở giường trong nhà Lò Văn C, lấy Heroine ra sử dụng bằng hình thức hít (trong lúc Lò Văn Đ và Lò Văn D sử dụng Heroine, Lò Văn C không biết).
Sau khi bán Heroine cho Lò Văn Đ, Lò Văn C đang ở nhà cùng Lò Văn T1 thì có Hoàng Văn T (sinh năm 1986 trú tại bản Nà Hày, xã M, huyện T) và Hoàng Văn D1 (sinh năm 1983 trú tại bản Mường 2, xã M, huyện T) đến. Khi đến cổng nhà Lò Văn C, Hoàng Văn D1 đưa cho Hoàng Văn T số tiền 140.000 đồng để mua Heroine rồi Hoàng Văn D1 đứng ở bên ngoài nhà C đợi còn Hoàng Văn T đi vào trong nhà gặp Lò Văn C hỏi mua Heroine. Lò Văn C đã bán cho Hoàng Văn T 01 gói Heroine lấy số tiền 140.000 đồng. Mua được H3, Hoàng Văn T và Hoàng Văn D1 chia nhau để sử dụng, Hoàng Văn T đi vào trong phòng vệ sinh nhà Lò Văn C sử dụng hết số Heroine của mình bằng hình thức tiêm chích (Lò Văn C không biết việc T sử dụng Heroine tại nhà mình). Hoàng Văn D1 mang Heroine về bản Lun 1, xã T, huyện T bẻ một ít sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine chưa sử dụng hết, Hoàng Văn D1 cầm về để tiếp tục sử
2
dụng thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang hồi 09 giờ ngày 28/12/2023 tại bản Nà Khương, xã M, huyện T, thu giữ tại túi áo bên trái đang mặc của Hoàng Văn D1 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy bạc.
Sau khi bán Heroine cho Hoàng Văn T, Lò Văn C đang ở nhà cùng với Lò Văn T1 thì có Lò Văn H (sinh năm 1980, trú tại bản Nà É, xã M, huyện T) và Tòng Văn H1 (sinh năm 1988, trú tại bản Là 2, xã M, huyện T) đến nhà C để chuẩn bị đi làm thuê cho C. Trong lúc T1, H1, Hoàng n ở bàn uống nước trong nhà C thì C đi vào chỗ giường ngủ của mình lấy gói Heroine dưới gối mà buổi sáng sử dụng chưa hết ra, để H3 trên giấy bạc và dùng bật lửa đốt phía dưới tờ giấy bạc cho H3 ở trên bốc khói rồi hít vào cơ thể. Sau đó, C nói với Lò Văn T1, Lò Văn H, Tòng Văn H1 “anh em vào đây làm vài hơi để đi làm cho khỏe”. Thượng, H, H1 hiểu ý C cho sử dụng Heroine nên đi vào ngồi cạnh giường ngủ của C. Lò Văn C cầm mảnh giấy bạc đã có sẵn H3 ở trên, châm lửa hơ phía dưới để Heroine bốc khói rồi cho Tòng Văn H1, Lò Văn H, Lò Văn T1 lần lượt hít. Khi H1, H, T1 sử dụng Heroine xong, chuẩn bị đi làm thì lực lượng Công an huyện T đến thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Lò Văn C. Vật chứng thu giữ của Lò Văn C số tiền 640.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng do Lò Văn Đ trả cho C khi mua Heroine và 140.000 đồng do C bán H3 cho Hoàng Văn T mà có).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 300.000 đồng của Lò Văn Đ, đây là số tiền Lò Văn C đã trả lại cho Lò Văn Đ khi Đ mua Heroine của Lò Văn C.
Tại Kết luận giám định số 145 ngày 28/12/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 94/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn D1 có khối lượng 0,02 gam; là ma túy, loại: Heroine. Tại các bản Kết luận giám định số 95, 96/KL-KTHS cùng ngày 03/01/2024 của phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 640.000 đồng thu giữ của Lò Văn C và số tiền 300.000 đồng thu giữ của Lò Văn Đ gửi đến giám định là tiền thật.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 gói Heroine có khối lượng 0,02 gam thu giữ của Hoàng Văn D1, đã gửi giám định toàn bộ (không hoàn lại mẫu vật), còn lại 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; số tiền 640.000 đồng thu giữ của Lò Văn C; số tiền 300.000 đồng thu giữ của Lò Văn Đ hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Lò Văn C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát
3
nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn C 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; Áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lò Văn C phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn C.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 340.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có trong tổng số 640.000 đồng thu giữ của Lò Văn C, trả lại cho bị cáo Lò Văn C 300.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lò Văn Đ số tiền 300.000 đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn C do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo Lò Văn C đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguyên nhân, điều kiện phạm tội xuất phát từ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt tương ứng với mỗi tội danh.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và nhất trí với luận cứ bào chữa, không bổ sung lời bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 20 giờ ngày 27/12/2023, tại bản Pá Liềng, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn C đã mua trái phép 01 gói Heroine từ một người không rõ lai lịch với giá 200.000 đồng. Mua được H3, Lò Văn C mang về tại nhà bản L, xã T, huyện T chia thành các gói nhỏ, mục đích: để sử dụng và bán. Đến khoảng 07 giờ ngày 28/12/2023, tại bản Lun 1, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn C đã hai lần bán trái phép Heroine, mỗi lần bán cho 01 người, lần lượt bán cho Lò Văn Đ (02 gói) và bán cho Hoàng Văn T (01 gói), lấy tổng số tiền 340.000 đồng. Cũng trong ngày 28/12/2023, tại giường ngủ trong nhà ở của mình thuộc bản Lun 1, xã T, huyện T, Lò Văn C đã cùng 01 lúc tổ chức cho 03 người sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Lò Văn T1, Lò Văn H, Tòng Văn H1 bằng cách cung cấp Heroine và địa điểm, đồng thời chuẩn bị công cụ, chế biến Heroine trên giấy bạc, dùng bật lửa đốt phía dưới giấy bạc làm cho H3 bốc khói để cho T1, H, H1 sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể.
Bị cáo Lò Văn C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với mục đích thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý, bị cáo đã có hành vi mua ma tuý về bán kiếm lời, trực tiếp hai lần bán trái phép Heroine, mỗi lần bán cho 01 người. Đồng thời tổ chức cho ba người là Lò Văn T1, Lò Văn H, Tòng Văn H1 sử dụng trái phép Heroine bằng hình hình thức hít. Hành vi của bị cáo Lò Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
5
Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn C sinh sống tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Bị cáo được đi học hết lớp 03/12 bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có vợ là Đèo Thị K hiện đang chấp hành án về tội phạm ma tuý và có 03 con. Bị cáo đã không tu dưỡng rèn luyện bản thân, làm gương cho các con, mà mắc vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma tuý. Bị cáo có nhận thức rõ hành vi mua bán, tổ chức sử dụng chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; đồng thời là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc; bị cáo có mẹ đẻ là Hoàng Thị B là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định. Bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự đối bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,02 gam thu giữ của Hoàng Văn D1, đã gửi giám định toàn bộ (không hoàn lại mẫu vật) nên không phải xử lý. Đối với 01 mảnh giấy bạc, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 340.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có trong tổng số 640.000 đồng thu giữ của Lò Văn C, trả lại cho bị cáo Lò Văn C 300.000, trả lại cho anh Lò Văn Đ số tiền 300.000 đồng không phải là tiền do phạm tội mà có theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lò Văn C là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo Lò Văn C 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6
[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm đối bị cáo. Không chấp nhận đề của của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt tương ứng với từng điều luật. Do bị cáo là người nghiện ma túy lâu năm, bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nếu hành vi của bị cáo không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do vậy, cần có mức án tương xứng trên mức thấp nhất của khung hình phạt tương ứng với từng tội danh mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[10] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Lò Văn C khai mua từ một người đàn ông không rõ lai lịch tại bản Pá Liềng, xã T, huyện T nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi của Lò Văn Đ đã mua Heroine cho Lò Văn D cùng sử dụng. Xét thấy, đây là hành vi có tính giản đơn của người nghiện có chất ma túy cho người nghiện khác cùng sử dụng trái phép, không có sự chỉ huy, phân công, điều hành, chuẩn bị, cung cấp địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, cơ quan điều tra không xử lý Lò Văn Đ về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Đối với việc Lò Văn Đ, Lò Văn D, Hoàng Văn T đã sử dụng trái phép chất ma túy trong nhà Lò Văn C. Quá trình điều tra xác định, tại thời điểm Lò Văn Đ, Lò Văn D, Hoàng Văn T sử dụng Heroine tại nơi ở của mình, Lò Văn C không biết. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Lò Văn C về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn Đ, Lò Văn D, Hoàng Văn T, Lò Văn H, Lò Văn T1, Tòng Văn H1, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với hành vi của Hoàng Văn D1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,02 gam Heroine, quá trình điều tra xác định Hoàng Văn D1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa bị kết án về một trong các tội phạm về ma túy nên Công an huyện T đã ra quyết định xử lý hành chính đối với Hoàng Văn D1 là đúng quy định.
7
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 55; điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Lò Văn C 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lò Văn C phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2023.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 340.000 đồng (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng) trong tổng số 640.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) thu giữ của Lò Văn C, trả lại cho bị cáo Lò Văn C 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); trả lại cho anh Lò Văn Đ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cáo Lò Văn C 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình) vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Quàng Thị Phương |
8
9
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn C - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý tổng hợp hình phạt 14 năm 09 tháng tù
