Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25-7-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Ngô Thị Thúy Liễu.
  2. Bà Bùi Lê Phương Thảo.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 947/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Đoan T, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A đường T, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Bị đơn: Ông Võ Trọng N, sinh năm 1976; nơi ở hiện nay: Số D đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30 tháng 9 năm 2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Lê Thị Đoan T trình bày:

Bà Lê Thị Đoan T và ông Võ Trọng N trước khi kết hôn đã có thời gian tìm hiểu nhau. Sau đó, bà T và ông N tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 06/6/2006 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi chung sống với nhau một thời gian, vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, ông N không quan tâm đến cuộc sống gia đình, không chăm lo cho con cái và không có sự chia sẻ với bà T. Ông N thường xuyên lừa dối vợ con, vợ chồng không có sự tin tưởng lẫn nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn xảy ra. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2019 cho đến nay. Hiện nay cuộc sống mỗi người tự lo liệu, không ai quan tâm đến ai nữa. Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn với ông Võ Trọng N.

Về con chung: Bà Lê Thị Đoan T và ông Võ Trọng N có 02 người con chung là cháu Võ Thùy T1, sinh ngày 30/7/2008 và cháu Võ Thanh N1, sinh ngày 10/9/2014. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng bà T. Khi ly hôn, bà T có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu đến tuổi trưởng thành. Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Đoan T và ông Võ Trọng N tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ về tài sản: Bà Lê Thị Đoan T trình bày vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Trọng N trình bày: Nếu bà Lê Thị Đoan T trả xong các khoản nợ riêng cho ông N thì ông N sẽ đồng ý ly hôn với bà T. Ông N cũng đồng ý giao cả hai người con chung là cháu Võ Thùy T1 và Võ Thanh N1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành theo nguyện vọng của bà T. Về tài sản chung thì ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung thì vợ chồng không có. Tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 19/4/2024 và ngày 13/6/2024, ông N yêu cầu Tòa án xử ly hôn vắng mặt bị đơn và giao 02 người con chung cho bà T nuôi dưỡng; đồng thời bà T phải tất toán số tiền 180.000.000 đồng và gửi kèm chứng từ để ông N không còn nợ tại các ngân hàng N2 và V.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên hoà giải là không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 39 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bà Lê Thị Đoan T được ly hôn với ông Võ Trọng N; giao 02 người con chung là cháu Võ Thùy T1, sinh ngày 30/7/2008 và cháu Võ Thanh N1, sinh ngày 10/9/2014 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Ông N không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về nghĩa vụ về tài sản: Vợ chồng không có nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lê Thị Đoan T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà và ông Võ Trọng N có nơi ở hiện nay tại số D đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông N cũng đồng ý về việc Tòa án nhân dân thành phố Huế giải quyết vụ án. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tại phiên toà, nguyên đơn là bà Lê Thị Đoan T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Đoan T và ông Võ Trọng N trước khi kết hôn đã có thời gian tìm hiểu nhau, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 06/6/2006 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị Đoan T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Võ Trọng N. Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn, vợ chồng bà T, ông N sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không biết cảm thông, tin tưởng, chia sẻ cho nhau những khó khăn trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra cãi vã nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 11 năm 2019 và không còn quan tâm lẫn nhau. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N. Ông N cũng đồng ý ly hôn với bà T nếu bà T trả xong các khoản nợ riêng cho ông N.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông N.

[3] Về con chung: Bà Lê Thị Đoan T và ông Võ Trọng N có 02 người con chung là cháu Võ Thùy T1, sinh ngày 30/7/2008 và cháu Võ Thanh N1, sinh ngày 10/9/2014. Bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Võ Trọng N phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bà T có nghề nghiệp là giáo viên, thu nhập bình quân hàng tháng là 15.000.000 đồng. Hiện cả hai cháu đều đang được bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời cháu T1 và cháu N1 đều trình bày nếu cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Ông Võ Trọng N cũng đồng ý giao 02 người con chung cho bà T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cả hai cháu Võ Thùy T1 và cháu Võ Thanh N1 cho bà Lê Thị Đoan T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án giải thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của con khi cha mẹ ly hôn, nhưng bà T cho rằng hiện nay có công việc và thu nhập ổn định nên không yêu cầu ông N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Việc bà T không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên cần chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Bà Lê Thị Đoan T và ông Võ Trọng N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về nghĩa vụ về tài sản: Bà Lê Thị Đoan T xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại các đơn trình bày của mình, ông Võ Trọng N đều thừa nhận ông N tự ý vay nợ vào năm 2018 mà không có sự đồng ý của bà T, bà T hoàn toàn không ký vào bất kỳ hợp đồng tín dụng nào, mục đích ông N vay nợ là để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình. Ông N cũng xác nhận vợ chồng không có khoản nợ chung.

Bà T thừa nhận Bản cam kết lập ngày 06/02/2022 có nội dung “Để thỏa thuận li dị của 2 vợ chồng thì tôi sẽ trả thay cho chồng tôi các khoản nợ trên...” là của bà T trực tiếp lập. Bà T xác nhận hoàn toàn không biết việc ông N tự ý vay mượn các khoản nợ trước đây, nhưng để hỗ trợ một phần tiền cho ông N trả nợ nếu vợ chồng thuận tình ly hôn, bà T đã đề nghị được trả giúp cho ông N. Tuy nhiên, do ông N không đồng ý về việc thuận tình ly hôn với bà T nữa nên bà T mới phải đơn phương viết đơn xin ly hôn ông N và bà không đồng ý trả thay ông N số tiền nợ riêng của ông N nữa.

Hội đồng xét xử xét thấy không có tài liệu, chứng cứ thể hiện bà Lê Thị Đoan T vay nợ Ngân hàng nào và cũng không có căn cứ để xác định ông N vay tiền của Ngân hàng hay của ai nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông N cũng không cung cấp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng mình vợ chồng có các khoản nợ chung cụ thể đối với ai hoặc khoản nợ riêng của bà T đối với ông N. Do bà Lê Thị Đoan T và ông Võ Trọng N không có tài liệu chứng cứ liên quan đến nợ chung của vợ chồng và trước khi đưa vụ án ra xét xử không có ai yêu cầu Toà án buộc vợ chồng bà T, ông N phải thanh toán khoản nợ chung nào nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đoan T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Đoan T được ly hôn ông Võ Trọng N.
  2. Về con chung: Bà Lê Thị Đoan T và ông Võ Trọng N có 02 con chung là cháu Võ Thùy T1, sinh ngày 30/7/2008 và cháu Võ Thanh N1, sinh ngày 10/9/2014.

    Giao các cháu Võ Thùy T1 và Võ Thanh N1 cho bà Lê Thị Đoan T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Ông Võ Trọng N không phải cấp dưỡng nuôi con. Tại thời điểm xét xử, các cháu Võ Thùy T1 và cháu Võ Thanh N1 đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Đoan T và ông Võ Trọng N tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nghĩa vụ về tài sản: Không có ai yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
  5. Về án phí: Buộc bà Lê Thị Đoan T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001264 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế. Bà Lê Thị Đoan T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh TT. Huế;

- VKSND thành phố Huế;

- CC THADS thành phố Huế;

- UBND P. Thuận Hòa, TP. Huế

(ĐKKH số: 52 ngày 06/6/2006);

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Văn Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Đoan Trang và Võ Trọng Nguyên " tranh chấp nuôi con"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger