Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/7/2024

V/v "Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hồng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng

2. Bà Phạm Thị Thanh Hương

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Lê Nguyễn Khải Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa phát biểu: ông Nguyễn Văn Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 26/2024/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 39/2024/QĐST – HPT ngày 17/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Hồ Thị N, sinh năm 1997

Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

- Bị đơn: anh Trương Văn Đ, sinh năm 1993

Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

(Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Hồ Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị Hồ Thị N và anh Trương Văn Đại tự tìm hiểu và chung sống cùng nhau vào năm 2017, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm và lo lắng cho nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống căng thẳng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Hồ Thị N yêu cầu được ly hôn với anh Trương Văn Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trương Văn Minh K – sinh ngày 29/9/2017 và cháu Trương Thị Ngọc T – sinh ngày 04/3/2019. Khi ly hôn chị Hồ Thị N yêu cầu được tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Văn Minh K và cháu Trương Thị Ngọc T. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị N không yêu cầu anh Trương Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Trương Văn Đ đã được Toà án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự vắng mặt có đơn yêu cầu nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử là đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị N, cho chị Hồ Thị N được ly hôn với anh Trương Văn Đ; Về con chung do anh Đ không tham gia giải quyết vụ án, chị N có nguyện vọng được nuôi các con chung, để đảm bảo quyền lợi cho các con chung cháu Trương Văn M K và cháu Trương Thị Ngọc T nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị N, giao con chung cháu Trương Văn M K và cháu Trương Thị Ngọc T cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Chị Hồ Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Trương Văn Đ, hiện nay anh Trương Văn Đ cư trú tại tổ A, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Về sự vắng mặt của đương sự: Căn cứ theo theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Chị Hồ Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N. Bị đơn anh Trương Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ là đúng quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: chị Hồ Thị N và anh Trương Văn Đại tự tìm hiểu và chung sống cùng nhau vào năm 2017, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước, do đó hôn nhân giữa chị Hồ Thị N và anh Trương Văn Đ là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình sống chung, qua lời trình bày của chị N vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không còn yêu thương, quan tâm lo lắng cho nhau. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu ly hôn với anh Đ. Xét thấy anh Đ vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án thể hiện việc không mong muốn vợ chồng được đoàn tụ. Đồng thời, tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị Hồ Thị N và anh Trương Văn Đ xác định quá trình chung sống giữa chị N và anh Đ có mâu thuẫn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Hồ Thị N ly hôn với anh Trương Văn Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trương Văn Minh K – sinh ngày 29/9/2017 và cháu Trương Thị Ngọc T – sinh ngày 04/3/2019. Xét thấy chị N có yêu cầu được nuôi con chung, anh Đ vắng mặt không thể hiện được ý kiến. Để đảm bảo về quyền lợi của các con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Hồ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trương Văn Minh K – sinh ngày 29/9/2017 và cháu Trương Thị Ngọc T – sinh ngày 04/3/2019. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Toà án không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết về tài sản nên Tòa án không giải quyết.

[3] Về án phí: chị Hồ Thị N phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4] Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị N.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Hồ Thị N được ly hôn với anh Trương Văn Đ.

(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2017 ngày 09/01/2017 của UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước )

- Về con chung: Giao cho chị Hồ Thị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trương Thị Ngọc T – sinh ngày 04/3/2019 và cháu Trương Văn Minh K – sinh ngày 29/9/2017.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Hồ Thị N không yêu cầu anh Trương Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không xem xét.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Hồ Thị N phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005063 ngày 21/02/24 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - THA huyện Hớn Quản;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Đồng Nơ;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa

Nguyễn Mạnh Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger