|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 24/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Hoan- Giáo viên nghỉ hưu.
- Ông Cao Văn Đại- Bí thư Đoàn TNCSHCM thị trấn Thanh Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 11/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Trần T
sinh năm 1995; nơi sinh, nơi cư trú: thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trần C và bà Lê Thị T1 vợ là Dương Thị N 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến nay tại Trạm tạm giam Công an tỉnh Hcó mặt tại phiên toà.
- Bị hại: gồm 39 người có danh sách kèm theo bản án. (Đều vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nông Hà L: Bà Hoàng Thị K năm 1985 (là mẹ cháu L; có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Thị N1 năm 1998, địa chỉ: X, Quảng Bình, Q, Thanh Hóa. (có mặt)
Địa chỉ: xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Trần T2 người không có nghề nghiệp ổn định, do cần tiền tiêu xài nên T3 nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. Khoảng tháng 09 năm 2023, T4 căn cước công dân của vợ là chị Dương Thị N2, sau đó T5 ý mở tài khoản ngân hàng Otại ngân hàng Thương mại cổ phần Q(Vsố tài khoản là 044941758 mang tên DUONG THI NGOC để sử dụng. Tlập tài khoản facebook có đường link là: https://www.facebook.com/100028203621412UID là facebook “100028203621412”, tên tài khoản được thay đổi liên tục như “Nhà xe Ngọc H“Nhà xe Cường N1”, “Nhà xe Tuấn M rồi đăng bài lên các hội nhóm trên mạng xã hội Facebook có nội dung: “chuyên cho thuê xe tự lái, 4 chỗ, 7 chỗ, 14 chỗ...” kèm các hình ảnh về xe ô tô đời mới, kiểu dáng, mẫu mã đa dạng về chủng loại, trang thiết bị hiện đại (thực tế là hình ảnh sao chép từ các nguồn khác trên mạng). Khi có khách hàng liên hệ đặt xe thì Tnhắn tin với khách hàng qua ứng dụng Messenger rồi đề nghị kết bạn với tài khoản Z tên “Tsố điện thoại đăng ký zalo “0398.393.xxx” để nhắn tin thỏa thuận thuê xe. Sau đó T6 cầu khách hàng đặt cọc tiền, chuyển đến tài khoản ngân hàng V044941758 mang tên Dương Thị N3 nạn nhân tin tưởng chuyển tiền theo yêu cầu của Tthì T chuyển tiền đó sang tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần Q, số tài khoản 1019659306 mang tên Lê Trần T7 chặn tài khoản nhắn tin Messenger Facebook hay Zalo của họ với mục đích không cho những người này nhắn tin được với T8.
Trong các ngày 02/3/2024, 19/4/2024 và 22/4/2024 Công an huyện T tiếp nhận được đơn trình báo của anh Nguyễn Văn M1 Lê Công H1chị Lộ Thu M2tố cáo Tđã chiếm đoạt tiền của họ với hình thức nêu trên. Đến nay Cơ quan điều tra Công an huyện T điều tra và làm rõ được từ tháng 9/2023 đến tháng 5/2024, T3 lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 39 người (tương ứng danh sách 39 bị hại kèm theo bản án này) với tổng số tiền chiếm đoạt là 26.750.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 09/9/2024, VKSND huyện Thanh Hà truy tố Lê Trần T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) tuyên bố bị cáo Lê Trần T9 tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i khoản 1 Điều 52, điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Điều 129, 130, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo T10 15-17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 5/6/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo T11 bồi thường cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt của họ (trừ trường hợp đã bồi thường xong hoặc bị hại không yêu cầu bồi thường). Về án phí và các nội dung khác, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T; Viện kiểm sát nhân dân huyện TKiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 09 năm 2023 đến tháng 05 năm 2024, Lê Trần T12 thủ đoạn gian dối, đưa thông tin sai sự thật trên mạng xã hội là cung cấp dịch vụ cho thuê xe, vận tải hành khách để anh Nguyễn Văn M1 Lê Công H1chị Lộ Thu M2cùng 36 người khác tin tưởng là thật, chuyển tiền đặt cọc với hình thức chuyển khoản, chiếm đoạt tổng số tiền 26.750.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của nhiều người nên cần phải xử lý nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án này, bị hại là chị Nông Hà L1 ngày 03/6/2008. Bị cáo T13 đảo chiếm đoạt tài sản khi chị L2 đủ 16 tuổi, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, đến nay bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đủ cho bị hại là chị Nông Hà L3 chị Lộ T14 M2nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, năm 2020 bị cáo đã ủng hộ quỹ phòng chống dịch Covid19 hai triệu đồng; bị hại là chị Lộ T14 M2chị Nông Hà L4 đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên HĐXX xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh, nhân thân bị cáo; tính chất, hành vi phạm tội, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Bị hại gồm chị N5 H2chị Ngô Thị T15 T3anh Nguyễn Quốc Đ anh Lê A K1tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của bị hại, được Toà án chấp nhận. Bị hại là chị Nông Hà L3 chị Lộ T14 M2đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt nên đến nay hai chị không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, được HĐXX chấp nhận. 32 bị hại còn lại đến nay chưa được bị cáo bồi thường gì nên cần buộc bị cáo bồi thường cho những người bị hại này số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của họ, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường là 22.950.000đ (có danh sách cụ thể tại phần Quyết định của bản án).
[7] Về biện pháp tư pháp, biện pháp cưỡng chế:
Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T áp dụng biện pháp phong toả tài khoản số 1019659306 đứng tên Lê Trần T16 tại Ngân hàng TMCP Q, với số tiền phong toả là 125.401đ (theo Lệnh phong toả số 127 ngày 06/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T20) và phong toả tài khoản số [...] đứng tên Dương Thị Ngọc mở tại Ngân hàng TMCP Q, với số tiền phong toả là 66.430.000đ (theo Lệnh phong toả số 128 ngày 06/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T20). Xét thấy với số tiền bị phong toả tại tài khoản 044941758 đứng tên Dương Thị Ngọc mtại Ngân hàng TMCP Q phong toả số 128 ngày 06/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo nên HĐXX tiếp tục duy trì phong toả số tiền này, đồng thời dỡ bỏ lệnh phong toả đối với tài khoản số 1019659306 đứng tên Lê Trần T16 tại Ngân hàng TMCP Q
[8] Trong vụ án này, chị Dương Thị N4 biết T17 hiện hành vi phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS, lắp sim số 0398393054 Lê Trần T18 vứt đi không rõ vị trí nên không thu giữ được. Vì vậy không đặt ra vấn đề xem xét xử lý điện thoại này. Đối với sim số điện thoại nêu trên, do T18 sử dụng số điện thoại này phục vụ việc phạm tội, do đó cần đề nghị Tập đoàn C1thu hồi số thuê bao di động 0398393054 và tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền trong tài khoản thuê bao di động số 0998393054 (nếu có).
Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm bị hại tại các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tuy nhiên đến nay xác định có 28 người vắng mặt tại địa phương chưa rõ đi đâu, làm gì; 50 người chưa tiến hành làm việc được. Do đó Cơ quan điều tra đã chuyển thông tin vụ việc đến Cơ quan điều tra Công an nơi những người này cư trú để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm i khoản 1 Điều 52, điểm s và điểm b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Điều 129, Điều 130, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Trần T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lê Trần T19 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 5/6/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo T11 bồi thường cho 32 bị hại với tổng số tiền 22.950.000đ. Cụ thể như sau:
| STT | Họ và tên bị hại | Số tiền bị cáo phải bồi thường (đơn vị: đồng) |
|---|---|---|
| 1 | Nguyễn Văn Minh | 600.000 |
| 2 | Lê Công Hải | 900.000 |
| 3 | Nguyễn Văn Quang | 900.000 |
| 4 | Mạc Nguyễn Quỳnh Trâm | 1.400.000 |
| 5 | Mai Thị Lê | 800.000 |
| 6 | Trần Nguyễn Tiến Anh | 500.000 |
| 7 | Nguyễn Đại Dũng | 900.000 |
| 8 | Bùi Thị Thùy Trang | 1000.000 |
| 9 | Trịnh Tùng Dương | 900.000 |
| 10 | Trịnh Tuấn Minh | 1.500.000 |
| 11 | Võ Thanh Duy | 520.000 |
| 12 | Huỳnh Trọng Hiếu | 620.000 |
| 13 | Vũ Đình Dũng | 1000.000 |
| 14 | An Viết Nam | 1000.000 |
| 15 | Trương Quốc Huy | 1.100.000 |
| 16 | Nguyễn Thị Lan | 300.000 |
| 17 | Nguyễn Thị Ngọc Hằng | 300.000 |
| 18 | Trần Văn Quang | 1.100.000 |
| 19 | Huỳnh Nguyễn Phúc | 400.000 |
| 20 | Tống Sỹ Chủ | 250.000 |
| 21 | Quách Quỳnh Anh | 960.000 |
| 22 | Trần Thị Kim | 500.000 |
| 23 | Đặng Tấn Thức | 800.000 |
| 24 | Tăng Thị Hà | 200.000 |
| 25 | Nguyễn Văn Thắng | 480.000 |
| 26 | Trần Huỳnh Mai | 600.000 |
| 27 | Trần Minh Mẫn | 300.000 |
| 28 | Nguyễn Thị Ngọc Diệp | 700.000 |
| 29 | Nguyễn Thị Hồng Ngọc | 420.000 |
| 30 | Ngô Xuân Bình | 700.000 |
| 31 | Nguyễn Thị Thạch Thảo Trúc Lệ | 300.000 |
| 32 | Nguyễn Đức Thành | 1000.000 |
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền bồi thường nêu trên, nếu người phải thi hành chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về biện pháp tư pháp, biện pháp cưỡng chế:
- Huỷ bỏ biện pháp phong toả tài khoản số 1019659306 đứng tên Lê Trần T16 tại Ngân hàng TMCQ N2với số tiền bị phong toả là 125.401đ (theo Lệnh phong toả số 127 ngày 06/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T20)
- Duy trì phong toả tài khoản số [...] đứng tên Dương Thị Ngọc mở tại Ngân hàng TMCP Q số tiền bị phong toả là 66.430.000đ ( theo Lệnh phong toả số 128 ngày 06/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T20) để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo (Cơ quan thi hành án có trách nhiệm dỡ bỏ phong toả đối với số tiền còn lại trong tài khoản này sau khi thực hiện xong việc thi hành án).
5. Yêu cầu Tập đoàn C1 hồi số thuê bao di động 0398393054 và tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền trong tài khoản thuê bao di động số 0998393054 (nếu có).
6. Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.147.000đ (làm tròn số) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo qua mạng, nhiều người, nhiều nơi
