Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 24/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Minh Tân;
  2. Bà Đinh Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Tại Điểm cầu trung tâm: Phòng xử án số 01 - Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; tại Điểm cầu thành phần: Nhà Tạm giữ - Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi: Ông Lưu Quốc Trạng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.

Vào ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm: Phòng xử án số 01 - Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi và Điểm cầu thành phần: Nhà Tạm giữ - Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/HS-ST ngày 06/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:

Lê Nguyễn Hoàng Anh Q (tên gọi khác: Cu Đ), sinh ngày 08/8/1980; nơi thường trú: Tổ C, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Đ1; bị cáo có vợ (chết), có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2005; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 14/02/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi bị xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản; ngày 12/02/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 20/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành chung của 02 bản án là 48 tháng tù; nhân thân: Ngày 18/01/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2023 đến nay; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Q, có mặt.

- Bị hại:

  1. Bà Tạ Thị L, sinh năm 1958; địa chỉ: Số A đường V, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi;
  2. Người đại diện hợp pháp của bà L: Ông Đỗ Hữu Đ2, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A đường V, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

  3. Ông Lê Tiến D, sinh năm 1976; địa chỉ: Số C đường P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  4. Ông Trần Quốc B, sinh năm 1991; địa chỉ: Số C đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  5. Ông Trần Quang N, sinh năm 1995; địa chỉ: Số I, đường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  6. Ông Bùi L1, sinh năm 1964; địa chỉ: Số E đường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  7. Ông Võ Hồng T2, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn C, xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.
  8. Cháu Trần Hoàng Ngọc Q1, sinh ngày 12/7/2011; địa chỉ: Số D đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi;
  9. Người đại diện hợp pháp của cháu Q1: Bà Bùi Thị Ngọc T3, sinh năm 1984; địa chỉ: Số D đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Đinh Công C, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn A, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1984; địa chỉ: Số I đường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm 1968; địa chỉ: Số A đường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  3. Ông Phạm Quốc D1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số F đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  4. Bà Lê Thị L2, sinh năm 1961; địa chỉ: Số D đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  5. Bà Trần Thị T5, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
  6. Bà Võ Thị T6, sinh năm 1991; địa chỉ: Số B đường N, thị trấn L, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1.1] Bị cáo Lê Nguyễn Hoàng Anh Q không có nghề nghiệp, thường xuyên sử dụng ma tuý. Từ ngày 02/7/2023 đến ngày 07/9/2023, bị cáo Q đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Q rồi bán lấy tiền chi tiêu, sinh hoạt cho bản thân hằng ngày và mua ma túy sử dụng, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 07 giờ ngày 02/7/2023, sau khi chơi game tại quán game “Hugô” ở đường C, Q đi bộ đến hẻm G đường Q, Q thấy nhà do bà Tạ Thị L đang quản lý, Q dùng tay mở trộm 10m lưới B40 loại cao 1,5m đang rào gắn trên cột bê tông hàng rào, rồi cuộn lưới B40 lại. Sau đó, Q đi bộ ra trước khách sạn T7 nói ông Đinh Công C (làm nghề chạy xe ôm) chở Q quay lại hẻm G, ông C chở Q ngồi sau ôm cuộn lưới B40 đến điểm thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị Thanh T4 bán được với số tiền 260.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 01 giờ 30 ngày 21/7/2023, sau khi chơi game ở quán game “Hugô” đường C, Q đi bộ đến đường L. Khi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường L và đường P, Q thấy trước số nhà C đường P của anh Lê Tiến D có 01 (một) chiếc xe đạp hiệu Next Blitz màu xanh đen, Q lén lút dắt xe đạp này ra đường rồi điều khiển quay lại quán game “Hugô”. Sau đó, Q bán xe đạp vừa trộm được cho anh Nguyễn Hữu V với số tiền 300.000 đồng.

Lần 3: Khoảng 05 giờ ngày 25/7/2023, Lê Nguyễn Hoàng Anh Q từ nhà ở địa chỉ 6 đường Q (nhà bà nội của bị cáo) đến dãy nhà trọ số C đường L để trộm cắp tài sản. Q đi vào hành lang dãy trọ đến phòng trọ thứ 3 của anh Trần Quốc B. Lúc này, Q thấy anh B đang ngủ, cửa phòng không khoá, nên lén lút vào trong phòng lấy trộm 01 (một) điện thoại di động Iphone 8Plus, màu trắng vàng của anh B đang để trên đầu giường. Sau khi trộm được điện thoại, Q đến quán game “Hugô” chơi game; tại đây, Q bán điện thoại di động vừa trộm được cho một thanh niên (không rõ lai lịch) số tiền 400.000 đồng.

Lần 4: Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 21/8/2023, Q đến chùa T8 ở số I, đường Q. Tại đây, Quốc trèo qua cổng sắt vào bên trong chùa, đi theo lối cầu thang lên tầng hai lấy điện thoại di động Iphone 12, màu trắng của anh Trần Quang N để trên đầu giường trong phòng ngủ. Ngày 22/8/2023, Q mang điện thoại di động trộm được đến cửa hàng điện thoại Nhật Thy ở số F N của anh Phạm Quốc D1 bán với số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, anh D1 bán lại điện thoại di động Iphone 12, màu trắng cho một người không rõ lai lịch, số tiền 1.800.000 đồng.

Lần 5: Khoảng 04 giờ ngày 05/9/2023, Q điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 76B1-526.65 từ đường C đi trên các tuyến đường địa bàn thành phố Q để trộm cắp tài sản; khi Q đến nhà số E đường T của ông Bùi L1 đang xây dựng. Tại đây, Q trộm lấy trộm 01 (một) bàn tròn Inox đường kính 115cm và 03 (ba) tấm vỉ sắt 6 đan sẵn dùng để đổ đanh xây nhà, kích thước (120x100)cm. Sau đó, Q chở 03 (ba) tấm sắt đến điểm thu mua phế liệu của bà Lê Thị L2 bán với số tiền 175.000 đồng; còn bàn tròn thì Q chở đến điểm thu mua phế liệu của bà Trần Thị T5 bán với số tiền 400.000 đồng.

Lần 6: Khoảng 05 giờ ngày 06/9/2023, Lê Nguyễn Hoàng Anh Q điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 76B1-526.65, loại xe Nouvo, màu sơn đen đi trên đường để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Q đi từ đường Q, qua đường L đến đường N; khi đến nhà số B đường N, Q thấy nhà đang xây dựng, không có rào chắn phía trước, trong nhà có anh Võ Hồng T2 – là người bảo vệ công trình đang nằm ngủ, Q lén lút lấy trộm 01 (một) điện thoại di động S A24, màu đen của anh T2 đang để gần vị trí anh T2 ngủ. Sau khi trộm điện thoại, bị can Q đi đến đường hẻm trên đường Q (Q không nhớ rõ vị trí) mua 01 (một) tép ma tuý từ đối tượng không rõ lai lịch và sử dụng, còn lại ½ tép ma tuý Q cất giữ trong người. Khoảng 08 giờ ngày 06/09/2023, Công an phường C tiến hành làm việc với Q, Q giao nộp lại điện thoại di động Sam Sung Galaxy A24, màu đen và ½ tép ma tuý chứa trong ống nhựa màu vàng, bịt kín hai đầu cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho Công an phường C.

Lần thứ 7: Khoảng 17 giờ 30 ngày 07/9/2023, Q đến nhà số D đường L, Q thấy xe đạp màu xanh đen, nhãn hiệu XiANGR của cháu Trần Hoàng Ngọc Q1 (là con của chị Bùi Thị Ngọc T3) đang dựng phía trước nhà D. Lúc này, Q thấy không có người, nên lén lút dắt xe đạp ra đường, điều khiển đến thị trấn L, huyện T bán cho chị Võ Thị T6 với số tiền 400.000 đồng.

[1.2] Tại Kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS, ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q, kết luận:

  • 01 (Một) xe đạp Next Blitz, màu sơn xanh đen, tại thời điểm ngày 21/7/2023, trị giá 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng).
  • 01 (Một) điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu trắng vàng (không xác định được năm sản xuất) tại thời điểm ngày 25/7/2023, trị giá: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
  • 01 (một) cuộn lưới B40, loại cao 1,5m, dài 10m, trọng lượng 32kg, tại thời điểm ngày 02/7/2023, trị giá 608.000 đồng (sáu trăm lẻ tám nghìn đồng).

[1.3] Tại Kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐ ĐGTS, ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q:

  • 01 (một) điện thoại di động Iphone 12, màu trắng, tại thời điểm ngày 21/8/2023, trị giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
  • 03 (ba) tấm vĩ sắt 6 đan sẵn dùng để đổ đanh xây nhà, kích thước (120x100)cm, tổng trọng lượng 25kg, tại thời điểm ngày 05/9/2023, trị giá: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  • 01 (một) điện thoại di động S1 A24, màu đen, tại thời điểm ngày 06/9/2023, trị giá: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
  • 01 (một) xe đạp XiANGR, màu xanh đen, tại thời điểm ngày 07/9/2023, trị giá: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
  • 01 (một) cái bàn Inox đường kính 115cm, tại thời điểm ngày 05/9/2023, trị giá: 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi ngàn đồng).

4

[1.4] Tại Kết luận giám định số 906/KL-KTHS, ngày 31/10/2023 của Phòng KTHS - Công an tỉnh Q, kết luận: Chất rắn màu trắng trong phong bì gửi giám định là ma tuý, loại H1; Khối lượng mẫu: 0,004 gam.

[1.5] Đồ vật, tài liệu thu giữ:

  • 01 (một) điện thoại di động S2 A24, màu đen.
  • 01 (một) xe đạp hiệu XIANGR, màu xanh đen.
  • 01 (một) xe đạp Next Blitz màu sơn xanh đen.
  • 01 (một) cuộn lưới B40 loại cao 1,5m, dài 10m, trọng lượng 32 kg.
  • 01 (một) cái bàn tròn Inox đường kính 115cm.
  • 01 (một) đoạn ống nhựa (loại ống hút nước) màu vàng được hàn kín hai đầu (Q khai là chứa Heroine) được bỏ trong 01 (một) phong bì dán kín, niêm phong;
  • 01 (một) USB màu đen đỏ có lưu đoạn video diễn biến hành vi bị can Q trộm cắp xe đạp của anh D1.
  • 01 (một) bộ kim tiêm gồm ống bơm và kim tiêm; 01 (một) kéo bằng kim loại.
  • Tiền Ngân hàng N1 139.000 đồng.
  • 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 76B1-526.65, màu đen, loại Yamaha Nouvo. Qua xác minh chủ đăng ký Nguyễn Ngọc L3.

[2] Bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-TPQN, ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lê Nguyễn Hoàng Anh Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm b, g Khoản 2 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Q từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; về phần dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho ông B số tiến 3.000.000 đồng, bồi thường cho ông N số tiền 7.000.000 đồng, bồi thường cho ông L1 số tiền 200.000 đồng; về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ kim tiêm gồm ống bơm và kim tiêm, 01 (một) kéo bằng kim loại, hoàn trả cho bị cáo Q số tiền 139.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không có nghề nghiệp, đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tái phạm, chưa được xóa án tích, đã có hành vi lợi dụng sơ hở của các bị hại, 07 lần lén lút lấy trộm các tài sản của các bị hại bán lấy tiền dùng làm nguồn sống chính. Theo các Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q thì tổng giá trị tài sản mà bị cáo Q lấy trộm là 18.258.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Q đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân xấu.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

[5] Về phần dân sự:

[5.1] Các ông, bà Võ Hồng T2, Bùi Thị Ngọc T3, anh Tạ Thị L, Lê Tiến D đã nhận lại tài sản mà bị can Q trộm cắp, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.2] Ông Trần Quốc B yêu cầu bị cáo Q bồi thường giá trị tài sản là điện thoại Iphone 8Plus, màu trắng vàng theo định giá là 3.000.000 đồng; ông Trần Quang N yêu cầu bồi thường giá trị tài sản là điện thoại Iphone 12, màu trắng theo định giá là 7.000.000 đồng; ông Bùi L1 yêu cầu bồi thường giá trị tài sản 03 tấm vĩ sắt 6 đan sẵn là 200.000 đồng. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử buộc bị cáo Q có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các ông B, N, L1.

[5.3] Đối với 01 (một) bàn tròn Inox, ông Bùi L1 đã nhận lại, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6

[5.4] Các ông, bà Nguyễn Thị Thanh T4, Nguyễn Hữu V, Trần Thị T5, Võ Thị T6 đều không yêu cầu bị cáo Q hoàn trả lại số tiền đã mua tài sản do bị cáo trộm cắp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) điện thoại di động S2 A24, màu đen, là tài sản của ông T2, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Q trả lại cho ông T2 là đúng quy định của pháp luật.
  • 01 (một) xe đạp hiệu XIANGR, màu xanh đen, là tài sản của cháu Trần Hoàng Ngọc Q1, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Q trả lại cho bà Bùi Thị Ngọc T3 (là mẹ đẻ của cháu Q1) là đúng quy định của pháp luật.
  • 01 (một) xe đạp Next Blitz màu sơn xanh đen, là tài sản của anh Lê Tiến D, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Q trả lại cho anh D là đúng quy định của pháp luật.
  • 01 (một) cuộn lưới B40 loại cao 1,5m, dài 10m, trọng lượng 32 kg, là tài sản của bà Tạ Thị L, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Q trả lại cho L là đúng quy định của pháp luật.
  • 01 (một) cái bàn tròn Inox đường kính 115cm, là tài sản của ông Bùi L1, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Q trả lại cho ông L1 là đúng quy định của pháp luật.
  • 01 (một) đoạn ống nhựa (loại ống hút nước) màu vàng được hàn kín hai đầu (Q khai là chứa Heroine) được bỏ trong 01 (một) phong bì dán kín, niêm phong; khối lượng mẫu 0,004 gam đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
  • 01 USB màu đen đỏ có lưu đoạn video diễn biến hành vi bị cáo Q trộm cắp xe đạp của anh D, nên lưu hồ sơ vụ án.
  • 01 (một) bộ kim tiêm gồm ống bơm và kim tiêm; 01 (một) kéo bằng kim loại là phương tiện mà bị cáo Q dùng để sử dụng ma tuý, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • Tiền Ngân hàng N1 139.000 đồng là tiền của bị cáo Q, nên trả lại cho bị cáo Q.
  • 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 76B1-526.65, màu đen, loại Yamaha Nouvo. Qua xác minh chủ đăng ký là ông Nguyễn Ngọc L3. Ông L3 khai đã bán xe mô tô này vào năm 2021 nhưng không nhớ người mua; còn Q khai xe mua của người có tên “Việt 5 Thơm”, không biết địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Q tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

7

[7] Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,004 gam Heroin của bị cáo Q không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, Công an thành phố Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Q.

[8] Đối với ông Đinh Công C là người chở bị cáo Q cùng cuộn lưới B40 mà Q trộm vào ngày 02/7/2023 đi bán; bà Nguyễn Thị Thanh T4 là người mua cuộn lưới B40; ông Nguyễn Hữu V, là người mua xe đạp mà Q trộm cắp vào ngày 21/7/2023; ông Phạm Quốc D1, là người mua điện thoại di động Iphone 12, màu trắng mà Q trộm cắp vào ngày 21/8/2023; bà Lê Thị L2, là người mua 03 tấm vỉ sắt 6 mà Q trộm cắp vào ngày 05/9/2023; bà Trần Thị T5, là người mua 01 cái bàn tròn mà Q trộm cắp vào ngày 05/9/2023; bà Võ Thị T6, là người mua xe đạp nhãn hiệu XiANGR mà Q trộm cắp vào ngày 07/9/2023 đều không hứa hẹn trước và không biết tài sản trên là do Q trộm cắp mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q không xử lý về hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[9] Về án phí: Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 510.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các Điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tội danh, hình phạt đối với bị cáo, phần dân sự, xử lý vật chứng có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điểm b, g Khoản 2 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 47, 48, 50 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự; các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Hoàng Anh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Hoàng Anh Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/10/2023.
  3. Buộc bị cáo Lê Nguyễn Hoàng Anh Q có nghĩa vụ bồi thường cho ông Trần Quốc B số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng); bồi thường cho ông Trần Quang N số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng); bồi thường cho ông Bùi L1 số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Về xử lý vật chứng:

    [5.1] Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu đen, đỏ có lưu đoạn video diễn biến hành vi bị cáo Lê Nguyễn Hoàng Anh Q trộm cắp tài sản.

    8

    [5.2] Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ kim tiêm gồm ống bơm và kim tiêm; 01 (một) kéo bằng kim loại (được niêm phong trong một phong bì có đóng dấu của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Q);

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/3/2024 giữa Công an thành phố Q và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).

    [5.3] Trả lại cho bị cáo Lê Nguyễn Hoàng Anh Q 139.000 đồng (một trăm ba mươi chín nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1.

    (Theo Ủy nhiệm chi ngày 13/3/2024 tại Kho bạc Nhà nước Q2, đơn vị trả tiền: Công an thành phố Q, đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi).

  6. Bị cáo Lê Nguyễn Hoàng Anh Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, 510.000 đồng (năm trăm mười nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  7. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND TP Quảng Ngãi;
  • - CQCSĐT Công an T;
  • - Đội Tổng hợp - Công an
  • TP. Quảng Ngãi;
  • - C1 - Công an
  • TP. Quảng Ngãi;
  • - C2;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Hồng Ánh

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Q trộm cắp tài sản nên bị truy tố
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger