TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày 24 - 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Trung Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Anh
Bà Nguyễn Ngọc Cúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tất Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, thông báo về thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 266/2024/HSST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đỗ Minh Đ, sinh ngày 11/4/1990; tại tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: thôn T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Họ tên cha: Đỗ Minh H, sinh năm 1959; Họ tên mẹ: Trần Thị Kim T, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ tên Phan Thị Bảo Q, sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 05/02/2024; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Họ và tên: Nguyễn Quang T1, sinh ngày 27/7/1995; tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân;
1
Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1968; Họ tên mẹ: Bùi Thị H1, sinh năm 1969; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ tên Hoàng Thị T3, sinh năm 1993 và chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 16/01/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (các bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quang T1 và Đỗ Minh Đ là bạn bè quen biết nhau từ trước, biết được nhu cầu người dân sử dụng pháo dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, nên nảy sinh ý định buôn bán pháo kiếm lời. Ngày 07/01/2024, Nguyễn Quang T1 sử dụng điện thoại Iphone XR gắn sim số 0363.506.xxx có tài khoản zalo “Truyềnnguyễnquang” gọi đến tài khoản zalo “Đạt Đô” đăng ký sim số 0932.007.771 của Đỗ Minh Đ hỏi mua 02 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống/hộp. Đ đồng ý và thống nhất với T1 giá mỗi hộp pháo là 1.000.000 đồng và hẹn giao pháo ngày hôm sau. Sau khi T1 liên hệ đặt hàng, Đ sử dụng tài khoản Facebook tên “Đạt Đô” truy cập vào hội nhóm trên trang mạng xã hội tìm mua pháo hoa nổ. Thông qua các bài đăng trên nhóm, Đ liên hệ mua 08 hộp pháo hoa nổ, giá mỗi hộp pháo là 800.000 đồng và giao pháo trả tiền thông qua dịch vụ shipper. Đ trả tiền mua pháo là 6.400.000 đồng và mang pháo về nhà của Đ tại ấp A, xã B, huyện T cất giấu.
Khoảng 09 giờ ngày 08/01/2024, Đỗ Hoàng H2, sinh năm 2004, ngụ ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (bạn làm chung công ty với Nguyễn Quang T1) hỏi nhờ T1 mua 06 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống/hộp về sử dụng. T1 đồng ý và báo giá mỗi hộp là 1.300.000 đồng, hẹn giao nhận pháo tại khu vực cây xăng Ông Đ thuộc ấp B, xã V, huyện V. Sau khi H2 đặt mua pháo, T1 sử dụng zalo liên lạc với Đ đặt mua thêm 06 hộp pháo hoa nổ với giá 1.000.000 đồng/hộp, Đ đồng ý và nói T1 đến nhà Đ để lấy pháo. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô Wave RSX biển số 60B1-286.16 đến nhà Đ tại ấp A, xã B, huyện T để lấy pháo nhưng Đ không ở nhà. T1 gọi điện thoại cho Đ và gặp Đ lấy chìa khóa nhà. Theo sự chỉ dẫn của Đ, Tuyền tự mở cửa nhà Đ vào phòng khách lấy 08 hộp pháo hoa nổ mang về nhà tại khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giữ. Sau đó, T1 sử dụng bìa carton gói 06 hộp pháo hoa nổ, dùng băng keo dán kín và gọi điện thoại thuê Lâm Trường T4, sinh năm 1994, ngụ ấp G, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (là người giao nhận hàng thuê - còn gọi là shipper) vận chuyển 06 hộp pháo hoa nổ giao cho Đỗ Hoàng H2 tại cây xăng Ông Đ1 thuộc xã V, huyện V, cước phí vận
2
chuyển là 100.000 đồng. T4 đồng ý và gặp T1 vận chuyển hàng, T1 không nói cho T4 biết bên trong chứa pháo hoa nổ.
Khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, T4 điều khiển xe mô tô Exciter biển số 60H1-044.01 chở phía sau thùng bìa carton bên trong chứa pháo hoa nổ lưu thông đến đoạn đường thuộc ấp B, xã V, huyện V để giao hàng cho Đỗ Hoàng H2, thì bị lực lượng Công an xã V phối hợp với Công an huyện V tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra phát hiện T4 vận chuyển pháo nên tiến hành lập hồ sơ vụ việc và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.
Lúc 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Quang T1 đến Công an thị trấn V đầu thú và giao nộp 02 hộp pháo hoa nổ đã mua của Đ. Đến ngày 02/02/2024, Đỗ Minh Đ đến Công an thị trấn V đầu thú và khai nhận hành vi mua bán pháo nổ như đã nêu trên.
+ Tang vật thu giữ:
- Thu giữ của Lâm Trường T5: 06 khối hình hộp có kích thước 17cm x 17cm x 10 cm có ghi nhãn hiệu CHONG KOL; 01 xe mô tô biển số 60H1-044.01; 01 điện thoại di động Iphone 8; 01 điện thoại di động Iphone XS.
- Thu giữ của Nguyễn Quang T1: 02 khối hình hộp có kích thước 17cm x 17cm x 10 cm có ghi nhãn hiệu CHONG KOL; 01 xe mô tô biển số 60F2-087.27; 01 điện thoại di động Iphone XR.
+ Kết quả xác minh phương tiện xác định:
- Đối với xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 60B1-286.16 do T1 sử dụng đến nhà Đ lấy pháo thuộc quyền sở hữu của bà Bùi Thị H1, sinh năm 1969 (mẹ ruột của T1). Ngày 08/01/2024, T1 mượn xe bà H1 đi công việc và bà H1 không biết T1 sử dụng vận chuyển pháo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với xe mô tô Exciter biển số 60F2-087.27 do Nguyễn Quang T1 đứng tên sở hữu; xe mô tô Exciter biển số 60H1-044.01 do Lâm Trường T5 đứng tên sở hữu, không liên quan đến việc phạm tội.
- Đối với chiếc điện thoại bị cáo Đ sử dụng để liên hệ buôn bán pháo, sau khi nghe tin T5 bị bắt bị cáo đã xóa hết nội dung tin nhắn và đập vỡ điện thoại ném vào thùng rác, nên không thu giữ được.
+ Tại Kết luận giám định số: 707/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Giám định viên V tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Mẫu vật ký hiệu M1 và M2 gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng mẫu ký hiệu M1 là 10,6kg, mẫu ký hiệu M2 là 3,5kg.
H3 lại mẫu vật còn lại sau giám định (được niêm phong trong thùng catton).
3
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định V tại thành phố Hồ Chí Minh.
+ Xử lý tang vật, tài sản tạm giữ:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã giao trả xe mô tô Exciter biển số 60F2-087.27 cho Nguyễn Quang T1; xe mô tô Exciter biển số 60H1-044.01 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS cho anh Lâm T6 T5.
Tại bản cáo trạng số: 66/CT-VKSVC ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Quang T1 và Đỗ Minh Đ để xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1, Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T1 từ 14 đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo quy định.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Minh Đ từ từ 14 đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách theo quy định.
- Đề nghị Tòa án nhân dân huyện căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định (được niêm phong trong thùng catton).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước điện thoại di động hiệu Iphone XR, là phương tiện T1 sử dụng vào việc phạm tội.
- Đối với Lâm Trường T5 nhận vận chuyển hàng nhưng không biết bên trong kiện hàng là pháo hoa nổ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với Đỗ Hoàng H2 có hành vi đặt mua pháo hoa nổ về sử dụng không nhằm mục đích buôn bán, nên hành vi của H2 không cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự và H2 chưa thanh toán tiền và chưa nhận được pháo, nên hành vi của H2 không cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự.
- Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, thể hiện:
Ngày 08/01/2024, tại ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai Nguyễn Quang T1 mua 14,1kg pháo hoa nổ của Đỗ Minh Đ. Sau đó T1 đóng hộp và thuê Lâm Trường T5 vận chuyển 10,6kg pháo trên đường đi giao cho Đỗ Hoàng H2 thì bị lực lượng Công an phát hiện xử lý. Ngoài ra, T1 còn cất giấu tàng trữ trái phép 3,5kg pháo hoa nổ nhằm mục đích bán lại kiếm lời.
Đỗ Minh Đ thông qua mạng xã hội mua 14,1kg pháo hoa nổ với giá 6.400.000 đồng, sau đó bán lại cho Nguyễn Quang T1 giá 8.000.000 đồng, nhưng T1 chưa trả tiền mua pháo cho Đ.
[3]. Do vậy, hành vi của bị cáo T1 và Đ đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 190 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý một số loại hàng hóa có tính năng, tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt đối với nền kinh tế và trật tự an toàn xã hội, chỉ vì các bị cáo ham lợi nhuận mà bất chấp quy định của pháp luật, các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mà pháp luật đã cấm. Nên cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo khi lượng hình. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với vai trò ngang nhau, nên áp dụng mức hình phạt ngang nhau để đảm bảo tính công bằng trong bản án. Do các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích lợi nhuận vì vậy cần xử phạt hình phạt bổ sung để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Tình tiết tăng nặng không có. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo năn năn hối cải, các bị cáo đầu thú, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, hơn nữa các bị cáo cũng bị tạm giam một thời gian.
5
Xét thấy bị cáo Nguyễn Quang T1 và bị cáo Đỗ Minh Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, có hộ khẩu rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm để cải tạo bị cáo thành công dân tốt cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.
[5]. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
5.1]. Đối với chiếc xe mô tô Exciter biển số 60F2-087.27 của Nguyễn Quang T1 không liên quan đến việc phạm tội Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả cho bị cáo T1, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục đặt ra để xem xét.
5.2]. Đối với chiếc xe mô tô Exciter biển số 60H1-044.01 của anh Lâm T6 T5 không liên quan đến việc phạm tội Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả cho anh T5, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục đặt ra để xem xét.
5.3]. Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 và điện thoại di động Iphone XS của anh Lâm T6 T5 không liên quan đến việc phạm tội Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả cho anh T5, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục đặt ra để xem xét.
5.4]. Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XR của bị cáo Nguyễn Quang T1 sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung và ngân sách nhà nước.
5.5]. Đối với 01 gói niêm phong, ngoài thùng niêm phong có chữ ký Đỗ Minh Q1, Huỳnh Văn S, Nguyễn Quang T1 và đóng dấu mộc đỏ của Phân viện khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
5.6]. Đối với số tiền bị cáo T1 mua pháo của bị cáo Đ là 8.000.000 đồng, nhưng bị cáo T1 chưa trả cho bị cáo Đ, đây là số tiền liên quan đến việc phạm tội. Vì vậy buộc bị cáo T1 phải nộp lại để sung công.
[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1]. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Quang T1 và Đỗ Minh Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c, khoản 1, 4 Điều 190; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 331; Điều 333; Điều 336; Điều 337; Điều 262 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Minh Đ 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
6
Giao bị cáo Đỗ Minh Đ cho Ủy ban nhân dân xã B giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo Đỗ Minh Đ có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Quang T1 cho Ủy ban nhân dân phường P giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo Nguyễn Quang T1 có trách nhiệm phối hợp với UBND phường P giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Phạt bổ sung mỗi bị cáo 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
2]. Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu iphone XR
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong, ngoài thùng niêm phong có chữ ký Đỗ Minh Q1, Huỳnh Văn S, Nguyễn Quang T1 và đóng dấu mộc đỏ của phân viện khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.
Buộc bị cáo Nguyễn Quang T1 phải nộp số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).
3]. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4]. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
7
- TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai;
- Chi cục THA dân sự huyện Vĩnh Cửu;
- Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Cửu;
- Cơ quan THA HS huyện Vĩnh Cửu
- Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- UBND xã, phường nơi cư trú của bị cáo;
- Lưu HS, VP.
Lưu Trung C |
8
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đỗ Minh Đ 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
