Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/DS-ST

Ngày: 24 - 5 – 2024

“V/v tranh chấp về dân sự ranh giới

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Vững.
  2. Ông Nguyễn Văn Ánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 738/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp về dân sự ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-DS ngày 17/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST-DS ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Võ Văn Ú, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, Đồng Tháp.

- Bị đơn: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Võ Thị L, sinh năm 1963. (vợ ông Ú)
  2. Võ Thanh P, sinh năm 1991. (con ông Ú)
  3. Nguyễn Thị T, sinh năm 1950. (vợ ông Đ)
  4. Nguyễn Văn H, sinh năm 1976. (con ông Đ)
  5. Nguyễn Văn L1, sinh năm 1977. (con ông Đ)
  6. Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978. (con ông Đ)
  7. Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1982. (con ông Đ)
  8. Nguyễn Thị P1, sinh năm 1984. (con ông Đ)
  9. Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1986. (con ông Đ)
  10. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989. (con ông Đ)
  11. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990. (con ông Đ)
  12. Nguyễn Thị N, sinh năm 1993. (con ông Đ)
  13. Nguyễn Thị Trúc L2, sinh năm 1998. (cháu ông Đ)
  14. Nguyễn Thị Huyền T3, sinh năm 2003. (cháu ông Đ)
  15. Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 2006. (cháu ông Đ)

Cùng địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Có mặt: Ông Ú, bà T, anh T2; các đương sự còn lại có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Võ Văn Ú trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ cho ông Ú vào năm 1984. Đến năm 1995 ông Ú được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Đến ngày 16/12/2019, ông Ú đi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang bản đồ địa chính chính quy là thửa đất số 155, tờ bản đồ số 06, diện tích 7.681,8m², loại đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho hộ ông Võ Văn Ú.

Phần đất này có một cạnh giáp đất ông Nguyễn Văn Đặng. Trước đây, đất Ú và đất ông Đ có trụ ranh, đất ai người đó canh tác không có bất kì tranh chấp gì.

Đến ngày 03/6/2019, ông Đ làm đơn yêu cầu UBND xã Đ giải quyết yêu cầu xác định lại ranh giữa ông và ông Đ.

Đến ngày 31/7/2019 thì UBND xã Đ mở phiên hòa giải giữa ông Ú và ông Đ, tại đây ông Ú và ông Đ được sự hòa giải, động viên của UBND xã nên cả hai đều thống nhất đo đạc lại đất và hai bên cùng xuống trụ ranh (có biên bản hòa giải thành).

Từ ngày đó đến nay ông Ú có đo lại đất cũng như khi nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính quy thì phần đất ông Ú có chiều ngang đúng với giấy chứng nhận và hai bên cũng không ai tranh chấp gì thêm phần đất trên.

Sự việc xảy ra khi gần đây ông Ú thuê máy kobe vào lên liếp trồng cây thì ông Đặng c gia đình ông ĐNguyễn Văn P2, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn T2 vào ngăn cản không cho thi công và tự ý cắm trụ ranh qua đất ông Ú chiều ngang đầu ngoài khoảng 1m, chiều ngang đầu trong khoảng 0,2m chiều dài khoảng 245m, tổng diện tích lấn khoảng 147m² trong khi hai bên đã giải quyết xong vụ việc tại UBND xã Đ. Phần đất của ông Nguyễn Văn Đặng g với ông Ú là thửa số 1401, tờ bản đồ số 3, loại đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc xã Ấ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông Nguyễn Văn Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Ú đã nhiều lần yêu cầu gia đình ông Đ xác định ranh lại với các hộ liền kề phía ông Võ Văn H2, ông Phạm Văn N1, bà Hồ Thị T4 đã lấn ranh của ông Đ, nhưng ông Đ không chịu mà lại tự ý di dời các trụ đá, cột mốc ranh để tranh chấp ranh đất với ông Ú.

Với lý do trên nay ông Ú làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết: Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 155, tờ bản đồ số 6, diện tích 7.681,8m², loại đất trồng lúa của ông Ú với thửa đất 1401, tờ bản đồ số 3, diện tích 4.965m², loại đất lúa của ông Nguyễn Văn Đ, đất cùng tọa lạc tại ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp: Ranh được xác định là các đoạn thẳng nối từ mốc M18 đến M19, M7 theo Sơ đồ đo đạc ngày 25/9/2023 của Công ty TNHH D1.

Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ông Ú trình bày do muốn giữ tình nghĩa anh em ruột và không muốn vụ án phải kéo dài nên ông thay đổi việc xác định ranh so với đơn khởi kiện. Nay, ông Ú yêu cầu Tòa án xác định ranh giữa thửa 155 của ông với thửa 1401 của ông Đ là đoạn thẳng nối liền các điểm như sau: Điểm giáp lộ đất Kênh Đầu Ngàn là điểm đo từ Mốc M12 kéo ngang qua cho đủ chiều ngang 32,10m (theo diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng mà ông được cấp ngày 16/1/2/2019) và điểm sau hậu là trụ đá được thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 25/9/2023 của Công ty TNHH D1.

Ngoài ra, ông Ú không còn yêu cầu hay tranh chấp gì khác.

Ông Ú thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 25/9/2023 của Tòa án và thống nhất theo Sơ đồ đo đạc của Công ty TNHH D1.

Hiện bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Ú đang cất giữ, không có cầm cố hay thế chấp cho cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào.

Hiện phần đất tranh chấp là phần đất trống, không có cây trồng hay vật kiến trúc gì của ai có trên đất.

Ông Ú cam kết Tòa án đã đưa đầy đủ các thành viên trong hộ của ông vào tham gia tố tụng trong vụ án và ông cũng yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng nào khác.

* Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 20/5/2024, ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Do lớn tuổi và hiện nay đang bị bệnh nên ông không thể đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử được nên ông đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông tại các phiên tòa xét xử sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm nếu có, Trong vụ án này, ông không có tranh chấp hay yêu cầu gì khác ngoài yêu cầu khởi kiện của ông Ú. Nay, ông thống nhất giao cho vợ và con của ông tên Nguyễn Văn T2 được toàn quyền quyết định trong vụ án này. Vì sau này ông cũng cho anh T2 phần đất này để nuôi dưỡng và thờ cúng cha mẹ.

* Bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn T2 thống nhất trình bày:

Về nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 1401, tờ bản đồ số 3, diện tích 4.965m², loại đất lúa, tọa lạc tại ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là do cha mẹ của ông Đặng t cho ông Đ, cho năm nào thì không nhớ, vì cho đã lâu. Đến ngày 02/9/1991, mẹ của ông Đ là bà Cao Thị B có viết giấy tay cho đất ông Đ (Võ Văn T5) là 11 công vườn và 05 công ruộng. Phần đất 05 công ruộng (5.000m²) có chiều ngang 20m, chiều dài là 250m, vì trước đây ông Đ có lấy tầm đo để thuê người ta cắt lúa (đo bao nhiêu tầm thì không nhớ). Ngoài ra, không còn chứng cứ hoặc giấy tờ gì chứng minh phần đất 05 công (5.000m²) có chiều ngang 20m, chiều dài là 250m, chỉ có xác nhận của những người làm chứng là ông Phan Văn T6, bà Hồ Thị T4 và ông Phạm Văn N1. Đến năm 1995, ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 4.965m², không đủ 5.000m², nhưng gia đình ông Đ cũng không có thắc mắc hay khiếu nại gì cho đến nay, lúc cấp giấy không có đo đạc thực tế.

Trước đây, đất của ông Đ và ông Ú có cái bờ đê (bờ ranh) lấy giữa bờ làm ranh phân biệt giữa 02 phần đất, nhưng do thời gian dài ông Đ không trực tiếp canh tác mà cầm cố cho người khác sử dụng nên ông Ú đã tự ý dịch chuyển bờ đê lấn sang đất của ông Đ, bằng chứng là khi nhận lại đất thì ông Đ có đo đất lại nhưng không còn đủ chiều ngang 20m nên mới tranh chấp ra xã. Kết quả hòa giải tại xã thì hai bên thống nhất trụ đá ranh sau hậu đất, trụ giữa lấy từ trụ đá ranh giáp đất ông H2 đo ngang đủ 20m cấm trụ, trụ đầu ngoài giáp lộ thì nằm trên đường thẳng nối từ trụ đá sau hậu đến trụ giữa chạy thẳng xuống sông. Ông Đ có cấm cây làm ranh nhưng ông Ú sau đó đã tự ý nhổ bỏ (ông Đặng c1 03 lần), việc cấm ranh này không có lập biên bản cũng như không có đo vẽ lại sơ đồ. Đối với trụ đá sau hậu hiện nay vẫn còn nhưng ông Ú đã tự ý dịch chuyển, không đúng vị trí như trước đây nên gia đình ông Đ không thống nhất.

Nay, gia đình của ông Đ không thống nhất ranh theo yêu cầu của ông Ú. Gia đình ông Đ đề nghị Tòa án đo đủ phần đất của ông Đ được mẹ cho là 5.000m² có chiều ngang 20m, dài 250m nên ranh giữa thửa 1401 của ông Đ với thửa 155 của ông Ú là đoạn thẳng nối liền các điểm M21 đến M20 đến M8 theo Sơ đồ đo đạc ngày 25/9/2023 của Công ty TNHH D1.

Ngoài ra, gia đình ông Đ không còn yêu cầu hay tranh chấp gì khác.

T, anh T2 thống nhất theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 25/9/2023 của Tòa án và thống nhất theo Sơ đồ đo đạc của Công ty TNHH D1.

Hiện bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Đ đang cất giữ, không có cầm cố hay thế chấp cho cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào. Tại buổi hòa giải, anh T2 có xuất trình cho Tòa án bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đối chiếu.

T, anh T2 cam đoan Tòa án đã đưa đầy đủ các thành viên trong hộ của ông Đặng v tham gia tố tụng trong vụ án, ngoài ra không còn ai khác. Bà T và anh T2 cũng không yêu cầu Tòa án đưa thêm ai vào tham gia tố tụng trong vụ án này. Đồng thời, phần đất thuộc thửa 1401 thì gia đình cũng thống nhất cho lại anh T2 để thờ cúng cha mẹ sau này, do đó anh T2 sẽ có toàn quyền quyết định trong vụ án này.

Anh T2 cam kết trong quá trình giải quyết vụ án anh có nhận thay các văn bản tố tụng cho gia đình của anh và anh đã thông báo cho họ biết về việc Tòa án đã thụ lý và việc giải quyết vụ án tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Ú với ông Đ, nhưng do gia đình của anh đều thống nhất phần đất này cha mẹ cho lại anh nên họ không đến Tòa án và giao cho anh T2 toàn quyền quyết định. Và họ đã có đơn xin vắng mặt. Đó là lý do mà họ không đến tham gia các phiên làm việc, phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa xét xử của Tòa án. Nếu sai trái, anh T2 xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Đối với việc ranh đất của ông Đặng g với đất của ông H2, ông N1, bà T4 thì ông Đ không tranh chấp. Trước đây, các bên đã có cấm trụ đá làm ranh với nhau, nhưng do nay Tòa án đo đất để giải quyết tranh chấp thì ông Đ xác định lại ranh cho thẳng từ trước đến sau hậu, vì hiện trạng ranh không thẳng.

* Ông Ú trình bày bổ sung: Trụ đá sau hậu không phải là trụ đá ranh, đó là do gia đình ông Đ tự ý cấm lại nên trong quá trình hòa giải thì ông không đồng ý. Nhưng tại phiên tòa, được Hội đồng xét xử giải thích và động viên chỗ tình nghĩa anh em ruột với nhau nên ông Ú đồng ý chọn trụ đá này để làm ranh. Sở dĩ, tại thời điểm hòa giải ở xã ông đồng ý đo từ trụ đá của ông H2 đang ngang qua 20m là do khi kéo thước dây đo thì vị trí ngang 20m là nằm ngay giữa bờ ranh nên ông mới đồng ý, chứ không phải ông thừa nhận diện tích đất của ông Đ có chiều ngang là 20m.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Võ Thị L và anh Võ Thanh P có văn bản trình bày: Trong vụ án này không có tranh chấp hay yêu cầu gì, thống nhất với mọi ý kiến của ông Ú và giao cho ông Ú được toàn quyền quyết định.

* Tại đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 20/5/2024, anh Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn L1, chị Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị P1, anh Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị Trúc L2, Nguyễn Thị Huyền T3, Nguyễn Thị Thùy D cùng thống nhất trình bày:

Do bận công việc làm ăn, công việc gia đình và việc học nên các anh chị không thể đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử được nên các anh chị đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các anh chị tại các phiên tòa xét xử sơ thẩm và phúc thẩm nếu có. Trong vụ án này, các anh chị không có tranh chấp hay yêu cầu gì ngoài yêu cầu khởi kiện của ông Ú và thống nhất giao cho bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn T2 được toàn quyền quyết định trong vụ án này.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Tòa án cho công bố công khai tại Phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 16/4/2024 của Tòa án huyện T. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự cũng đã được tiếp cận và không có ý kiến, yêu cầu hay khiếu nại gì.

* Vị đại diện Viện kiểm sát huyện T phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì.
  • Về nội dung vụ án: Xét thấy, việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn, bị đơn yêu cầu Tòa án xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của các đương sự. Ngoài ra, trong vụ án không còn đương sự nào có tranh chấp gì khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về dân sự ranh giới quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền, xét thấy: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Phần đất hiện đang tranh chấp tọa lạc tại ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về xét xử vắng mặt:

Tại phiên tòa, chỉ có mặt ông Ú, bà T, anh T2. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[1.4] Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện:

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Ú trình bày do muốn giữ tình nghĩa anh em ruột và không muốn vụ án phải kéo dài nên ông thay đổi việc xác định ranh so với đơn khởi kiện. Nay, ông Ú yêu cầu Tòa án xác định ranh giữa thửa 155 của ông với thửa 1401 của ông Đ là đoạn thẳng nối liền các điểm như sau: Điểm giáp lộ đất Kênh Đầu Ngàn là điểm đo từ Mốc M12 kéo ngang qua cho đủ chiều ngang 32,10m (theo diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng mà ông được cấp ngày 16/1/2/2019) và điểm sau hậu là trụ đá được thể hiện trên Sơ đồ đo đạc ngày 25/9/2023 của Công ty TNHH D1.

Ngoài ra, ông Ú không còn yêu cầu hay tranh chấp gì khác.

Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông Ú là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp của các bên thì các bên đều thừa nhận là của cha mẹ cho khoảng năm 1984, ông Đ và ông Ú là anh em ruột với nhau. Tại thời điểm nhận đất sử dụng là loại đất lúa, có cái bờ đê (bờ ranh) khoảng 04-05 tấc lấy giữa bờ đê để làm ranh giới quyền sử dụng đất và các bên đã sử dụng ổn định không có tranh chấp gì đến năm 2019. Hiện nay các bên đã đào liếp lên vườn nên không còn hiện trạng bờ đê trước đây.

[2.2] Xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn tại thửa 155, tờ bản đồ số 06 vào ngày 16/12/2019 là có đo đạc thực tế được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận, lúc này bờ đê hiện trạng vẫn còn, nhưng ông Đ không có ký giáp ranh. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn Nguyễn Văn Đ tại thửa 1401, tờ bản đồ số 3 (bản đồ 299) vào ngày 12/6/1995 là không có đo đạc thực tế. Do đó, không thể dựa tuyệt đối vào hồ sơ cấp quyền sử dụng đất của các đương sự để làm căn cứ giải quyết vụ án.

[2.3] Về hiện trạng phần đất tranh chấp:

Phần đất tranh chấp là phần đất trống, hiện trạng không có vật kiến trúc hay cây trồng gì để thể hiện về ranh giới giữa các bên. Phía sau hậu đất có 01 trụ đá nhưng các bên đương sự đều không thừa nhận trụ đá là trụ ranh nên không thể căn cứ vào trụ đá này để xác định ranh đất giữa các đương sự.

Phía bị đơn cho rằng phần đất của bị đơn thuộc thửa 1401 có chiều ngang 20m, chiều dài 250m tổng diện tích là 5.000m², nhưng bị đơn không có chứng cứ gì chứng minh. Ông Đ có cung cấp văn bản ý kiến có xác nhận của ông T6, ông N1, bà T4 làm chứng cho ông là đất ông có chiều ngang 20m, chiều dài 250m. Tuy nhiên, khi Tòa án tiến hành lấy lời khai của ông N1 và bà T4 thì họ chỉ xác định là ký tên là người có đất giáp ranh với ông Đặng c2 họ không có xác nhận sự việc là đất của ông Đ có chiều ngang 20m, chiều dài 250m; còn ông Phan Văn T6 thì không có ký tên mà do con ông T6 ký dùm. Đồng thời, chiều ngang phía sau hậu, gia đình ông Đ xác định có chiều ngang là 20.68m. Do đó, lời trình bày của gia đình ông Đ có phần đất chiều ngang 20m, dài 250 là chưa có cơ sở.

Theo lời khai của những người làm chứng Nguyễn Văn T7, Nguyễn Văn VPhan Văn T6 xác định ranh giới quyền sử dụng đất của ông Đ và ông Ú được xác định là giữa bờ đê, cặp bờ đê có cái đường nước do ông Đặng đ để thoát nước ra sông. Hiện nay ống bọng thoát nước vẫn còn và nằm bên phần đất của ông Đ, gần với vị trí mà ông Ú xác định ranh. Ông T7 còn trình bày lúc thuê đất của ông Đ thì ông có lấy tầm đo để thuê nhân công cắt lúa thì biết phần chiều ngang giáp lộ đất của ông Đặng c3 có khoảng 18m.

Từ khi ông Đ và ông Ú làm ruộng, có bờ đê làm ranh thì hai bên không có bất cứ tranh chấp gì, nhưng khi ông Ú lên vườn trồng cây thì mới bắt đầu xảy ra tranh chấp. Nhưng khi Tòa án thẩm định tại chỗ thì gia đình ông Đặng 1 xác định ranh giới phía giáp với ông H2, ông N1, bà T4 không trùng khớp với việc xác định ranh của ông H2, ông N1, bà T4, cụ thể là ông Đ đã nhường một phần đất của ông cho ông H2, ông N1, bà T4 để mục đích làm cho diện tích đất của thửa 1401 bị giảm xuống và xác định ông Ú lấn ranh là chưa phù hợp.

Dựa vào lời khai của những người làm chứng và hiện trạng đất thì có cơ sở xác định việc xác định ranh của ông Ú theo Sơ đồ đo đạc là phù hợp. Mặc dù, sơ đồ đo đạc thể hiện chiều ngang của thửa 155 của ông Ú là 32,21m, nhưng tại phiên tòa ông Ú đồng ý điểu chỉnh lại chiều ngang chỉ còn 32,10m cho đúng với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ú đã được cấp đổi chính quy. Phần đất sau hậu theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ú có chiều ngang là 31,18m, khi đo đạc ông Ú xác định chỉ có 31m theo Sơ đồ đo đạc, nhưng tại phiên tòa ông Ú đồng ý chọn trụ đá làm ranh (chiều ngang chỉ còn 30,56m). Việc thay đổi này là do ông Ú hoàn toàn tự nguyện và có lợi cho phía bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xác định việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất của nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận: Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 155, tờ bản đồ số 6 của hộ ông Võ Văn Ú với thửa đất 1401, tờ bản đồ số 3 (bản đồ số 299) của hộ ông Nguyễn Văn Đ đất cùng tọa lạc tại ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là đoạn thẳng nối liền từ mốc M22 đến M23 (trụ đá) theo Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 13 – 2023 của Công ty TNHH D1 ngày 24/5/2024.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định.

Ông Ú không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu, ông Ú đã nộp 9.696.000 đồng, do đó ông Đ phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Ú.

[5] Các đương sự có mặt tại phiên tòa thống nhất không còn tài liệu, chứng cứ gì để giao nộp cho Tòa án và không yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ và triệu tập thêm người làm chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện T là có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 175 của Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai; khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 165, Điều 173, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Văn Ú.
  2. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa các đương sự như sau:

    Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất 155, tờ bản đồ số 6 của hộ ông Võ Văn Ú với thửa đất 1401, tờ bản đồ số 3 (bản đồ số 299) của hộ ông Nguyễn Văn Đ đất cùng tọa lạc tại ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp được xác định là đoạn thẳng nối liền từ mốc M22 đến M23 (trụ đá) theo Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 13 – 2023 của Công ty TNHH D1 ngày 24/5/2024.

    Các đương sự được quyền sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác. Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định. Nếu cây trồng, vật kiến trúc của bên này lấn qua phần đất của bên kia thì phải tháo dở, di dời theo quy định của pháp luật.

    Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình theo quy định của pháp luật.

    (Gửi kèm Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/9/2023, Phụ lục sửa đổi, bổ sung mảnh trích đo địa chính số 13 – 2023 của Công ty TNHH D1 ngày 24/5/2024)

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm

    Ông Võ Văn Ú không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại ông Võ Văn Ú số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000879 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 9.696.000.000 đồng (chín triệu sáu trăm chín mươi sáu nghìn đồng), ông Ú đã nộp và chi xong. Do đó, ông Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Võ Văn Ú số tiền 9.696.000.000 đồng (chín triệu sáu trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
  6. Về quyền kháng cáo:
  7. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Riêng, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - THADS huyện Tháp Mười;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 70/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger