Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày: 24/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Ngân

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Phó - cán bộ hưu trí

Ông Lê Văn Nghĩa - giáo viên hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Trần Tiến Đ, sinh ngày 14/02/2006, tại Tiền Giang.

Nơi cư trú: ấp B, xã K, huyện G, Tiền Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần Minh A và bà Nguyễn Thị Như T; Em: 1 người, sinh năm 2008; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Trần Minh Â, sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện G, Tiền Giang; là cha ruột (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Phạm Minh Đ1, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có đơn xin vắng mặt).

-Người bị hại: Trần Văn H, sinh năm 1967 (chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Nguyễn Thị B, sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, Tiền Giang (có mặt).

+ Trần Hoàng N, sinh năm 2001; Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, Tiền Giang (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+Trần Minh Â, sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện G, Tiền Giang (có mặt).

+ Trần Huy C, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện G, Tiền Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Tiến Đ, sinh ngày 14/02/2006, không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định. Theo Đ khai, vào khoảng 18 giờ 48 phút, ngày 23/9/2023, Đ tự ý lấy xe 63K2-9426 có dung tích xy-lanh 97cm³ (xe do anh Trần Minh Â, sinh năm: 1968 mua, quản lý sử dụng chưa sang tên) đi từ nhà tại xã K, huyện G đến xã N, huyện C thăm bà ngoại. Khi Đ lưu thông trên đường T theo hướng Quốc lộ A - xã V thuộc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì Đ nhìn thấy ông Trần Văn H, sinh năm 1967, nơi thường trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang đang đi bộ từ bên lề đường bên trái sang lề đường bên phải theo hướng xéo về xã V, nhưng do đèn chiếu sáng của xe mờ và thiếu chú ý quan sát nên đã để xe mô tô biển số 63K2-9426 va chạm vào ông H làm ông H ngã xuống đường gây tai nạn. Ông H được người dân đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh T điều trị đến ngày 24/9/2023 thì tử vong.

* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ lúc 20 giờ 00 phút ngày 23/9/2023 ghi nhận: Hiện trường chung xảy ra tai nạn giao thông tại đường T, đoạn thuộc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Đường bê tông nhựa, mặt đường bằng phẳng, thẳng. Đường dành cho xe chạy hai chiều, mỗi chiều đường xe chạy được phân biệt bởi vạch kẻ nét đứt màu vàng ở tim đường. Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là phần đường dành cho xe lưu thông hướng Quốc lộ A đi xã V, được phân chia thành 02 làn đường, mỗi làn rộng 4,3 mét, không có chướng ngại vật. Chọn mép đường bên phải theo hướng đã chọn làm mép chuẩn, trụ điện số 13 làm vật chuẩn.

* Tại Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lúc 20 giờ 50 phút ngày 23/9/2023 đối với xe mô tô biển số 63K2-9426 ghi nhận: đèn chiếu sáng trước bể hoàn toàn, dính đất cát; phần xi nhan trước bên phải trầy xước dính đất cát; đầu tay thắng trước trầy kim loại, dính đất cát; đầu tay lái bên trái mài mòn cao su dính đất cát; phần bên phải mỏ dè chắn bùn trước mài mòn dính đất cát; phần bên trái mỏ dè chắn bùn trước trầy xước mất bụi; đèn phản quang ốp phuộc trước bên phải bể mất; đầu con ốc phuộc trước bên trái có dính chất màu đỏ; mặt ngoài bên trái lốp bánh trước trầy xước cao su; đầu chân thắng trầy xước kim loại dính đất cát; đầu gác chân trước bên phải mài mòn cao su và kim loại, gác chân cong về sau; đầu gác chân sau bên phải trầy xước kim loại và cao su; đuôi bô xe trầy xước kim loại; mặt ngoài quay yên bên phải trầy xước kim loại.

* Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện xác định: Xe mô tô biển số 63K2-9426 do Trần Tiến Đ điều khiển và ông Trần Văn H cùng lưu thông theo hướng Quốc lộ A đi xã V. Vùng va chạm giữa Xe mô tô biển số 63K2-9426 và ông Trần Văn H được xác định nằm trên phần đường bên phải tỉnh lộ 876 theo hướng Quốc lộ A đi xã V được ký hiệu là (A) trong Sơ đồ. Điểm (A) cách đầu vết cày (1) của xe mô tô biển số 63K2-9426 là 02 mét và cách mép lề phải là 02 mét.

*Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 316-2023/KLTTCT-TTPY ngày 24/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Nguyên nhân tử vong của tử thi Trần Văn H: Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện hai bán cầu đại não; xuất huyết thân não; dập tiểu não; xuất huyết liềm não; vỡ sàng sọ do tai nạn giao thông.

*Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 389-2023/KLTTCT-TTPY ngày 07/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Tiến Đ là 25% (Hai mươi lăm phần trăm).

*Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng sau: 01 xe mô tô biển số 63K2-9426; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên Trần Huy C.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bà Nguyễn Thị B, anh Trần Hoàng N là vợ và con của bị hại H yêu cầu gia đình bị can Trần Tiến Đ khắc phục chi phí mai táng số tiền là 70.000.000 đồng. Ông Trần Minh  là cha của Đ đã bồi thường xong. Bà B và anh N có đơn xin bãi nại, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
  • - Đối với xe mô tô biển số 63K2-9426 bị hư hỏng nhẹ, ông Trần Minh  tự nguyện sửa chữa, không yêu cầu bị cáo Đ, gia đình ông H bồi thường.

Anh Trần Minh  là chủ sở hữu hợp pháp của xe biển số 63K2-9426, bị cáo tự ý lấy xe chạy và gây tai nạn anh  không biết, anh  cũng không giao xe cho bị cáo sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSCT ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố các bị cáo Trần Tiến Đ về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Tiến Đ về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về hình phạt:
    • - Tuyên bố các bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
    • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101Bộ luật hình sự, Nghị quyết 01/2022.

    Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm

  2. Về xử lý vật chứng:
  3. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng: Trao trả một xe mô tô biển số 63K2-9426; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên Trần Huy C cho ông Trần Minh  do dây là tải sản hợp pháp của ông Â.

  4. Về trách nhiệm dân sự:
    • - Bà Nguyễn Thị B, anh Trần Hoàng N là vợ và con của bị hại H yêu cầu gia đình bị can Trần Tiến Đ khắc phục chi phí mai táng số tiền là 70.000.000 đồng. Ông Trần Minh  là cha của Đ đã bồi thường xong. Bà B và anh N có đơn xin bãi nại, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
    • - Đối với xe mô tô biển số 63K2-9426 bị hư hỏng nhẹ, ông Trần Minh  tự nguyện sửa chữa, không yêu cầu bị cáo Đ, gia đình ông H bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Ý kiến bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý Phạm Minh Đ1: Thống nhất với quan điểm xác định tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã áp dụng đối với bị cáo Trần Tiến Đ nhưng khi áp dụng hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo là người chưa thành niên, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần dầu, bị cáo đang học lớp 12 và chuẩn bị thi tốt nghiệp. Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại, gia định bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 90; Điều 91Bộ luật hình sự, Nghị Quyết 02/2018 và Nghị quyết 01/2022 cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Tiến Đ đã khai nhận: vào khoảng 18 giờ 48 phút, ngày 23/9/2023, Đ tự ý lấy xe 63K2-9426 đi từ nhà tại xã K, huyện G đến xã N, huyện C thăm bà ngoại. Khi Đ lưu thông trên đường T theo hướng Quốc lộ A - xã V thuộc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì Đ nhìn thấy ông Trần Văn H đang đi bộ từ bên lề đường bên trái sang lề đường bên phải theo hướng xéo về xã V, nhưng do đèn chiếu sáng của xe mờ và thiếu chú ý quan sát nên đã va chạm vào ông H làm ông H tử vong.

Lời nhận tội trên của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Tiến Đ tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ' theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên ý thức tham gia giao thông kém, bị cáo đã vi phạm các quy tắc tham gia giao thông đường bộ, không chú ý quan sát trong quá trình điều khiển xe nên đã gây ra hậu quả làm chết người.

[4] Xét về nhân thân bị cáo: Tài liệu về lý lịch thể hiện bị cáo Trần Tiến Đ có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả. Đại diện của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức hơn khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khi phạm tôi bị cáo là người chưa thành niên, bị cáo hiện đang đi học. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C trao trả xe mô tô biển số 63K2-9426; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên Trần Huy C cho anh Trần Minh  nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Đối với Anh Trần Minh  là chủ sở hữu hợp pháp của xe biển số 63K2-9426, bị cáo tự ý lấy xe chạy và gây tai nạn anh  không biết, anh  cũng không giao xe cho bị cáo sử dụng nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Tiền Giang không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh  về tội “ Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[12] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng và đề nghị mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận

[13] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Trần Tiến Đ là có căn cứ, phù hợp nhận định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt:
    • - Tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
    • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 91; điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Trần Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí:
  3. Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:
  5. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa cho bị cáo, đại diện bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TG;
  • - VKSND tỉnh TG;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - CC.THADS huyện Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Võ Thị Thu Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Tiến Đạt phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger