|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS - ST Ngày 23 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh M
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn K
- Ông Đỗ Hồng P
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt A- Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Y - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/TLST - HS ngày 30 tháng 8 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Dương Văn S (tên gọi khác: không), sinh năm 2000, tại xã Q, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Đ và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/5/2024 đến ngày 31/5/2024 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Y “có mặt”.
Người bào chữa cho các bị cáo Dương Văn S: Ông Lê Văn D - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V “có mặt”.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2001 “vắng mặt”;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 00 ngày 23/5/2024, tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Dương Văn S, sinh năm 2000, HKTT: Xóm T, xã Q, huyện B, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Thu giữ tại lòng bàn tay trái của Dương Văn S 01 (một) gói nhỏ bên ngoài bọc giấy, bên trong đựng chất bột cục màu trắng, S khai nhận đây ma túy Heroine của S, S tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tiến hành niêm phong túi nilon trên trong phong bì thư ký hiệu A1 theo quy định. Thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của Dương Văn S 01 (một) xi lanh qua sử dụng.
Quá trình điều tra, Dương Văn S khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, Dương Văn S đang ở xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì gặp bạn nghiện tên là M, khoảng 30 tuổi ở tỉnh Tuyên Quang (không rõ lai lịch cụ thể). Lúc này, M rủ S góp tiền mua ma túy (heroine) để cùng nhau sử dụng, S đồng ý. Sau đó, S đưa cho M số tiền 200.000 đồng để góp mua ma túy sử dụng, M cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô (không rõ đặc điểm, biển kiểm soát) của M chở S đến một ngõ nhỏ thuộc xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (không rõ địa chỉ cụ thể) để tìm mua ma túy. Đến nơi, S xuống xe đứng đợi M ở đầu ngõ còn M một mình đi vào trong ngõ, khoảng 05 phút sau, M quay lại bảo với S đã mua được ma túy và đưa cho S 01 (một) gói ma túy, bên ngoài bọc giấy, bên trong chứa chất ma túy heroine. S cầm gói ma túy M đưa bên tay trái rồi M điều khiển xe mô tô chở S đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến một quán nước ven đường thuộc thôn Y, xã Y thì M dừng xe, bảo S xuống mua nước. Sĩ một mình đi vào quán mua nước thì đúng lúc này bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thấy vậy M phóng xe bỏ chạy.
Ngày 23/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 668 giám định mẫu vật được niêm phong ký hiệu A1 gửi đến Phòng K - Công an tỉnh V để giám định xác định mẫu vật gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép ma túy không, loại ma túy, tiền chất gì? Trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?
Ngày 26/5/2024, Phòng K - Công an tỉnh V có Bản kết luận giám định số 1493/KLGĐ, kết luận:
“Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1932g (Không phảy một chín ba hai gam, không kể bao bì), loại H1 (H).
Heroine (H2) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ được, S khai nhận đây là gói ma túy Heroine của S cùng M góp tiền mua và cất giấu mục đích là để sử dụng cho bản thân. S chỉ biết M là người ở tỉnh Tuyên Quang, ngoài ra không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của M nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, xử lý. Do M là người mua ma túy nên S cũng không biết người bán ma túy cho S và M là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh, xử lý.
* Về vật chứng của vụ án: Đối với mẫu vật Phòng K - Công an tỉnh V đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định, gồm: A1 = 0,1376 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1395/2024”, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói niêm phong và hình dấu tròn đỏ của phòng K - Công an tỉnh V là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 xi lanh chưa qua sử dụng mục đích để sử dụng ma tuý.
Quá trình điều tra Dương Văn S đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số 70/CT - VKSYL ngày 29 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Dương Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt Dương Văn S từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 23/5/2024; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng và miễn án phí cho bị cáo.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Bị cáo S không có ý kiến bổ sung gì khác và cũng không có ý kiến tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn S đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo là người nghiện ma túy nên mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Mặt khác, bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Người làm chứng anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa xong trong quá trình điều tra anh đều trình bày các nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo S cùng các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 ngày 23/5/2024, tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc tổ công tác Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang Dương Văn S có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo kết luận giám định là heroine có khối lượng 0,1932g, mục đích sử dụng cho bản thân.
[3] Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh V và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi cất giấu, đem theo trên người ma túy của bị cáo Dương Văn S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm ...
c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”...
[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến tính chất độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội. Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng. Để nhằm mục đích tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhận thức bình thường, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, bất chấp quy định của pháp luật xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ về hành vi bị cáo đã thực hiện như mức hình phạt vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Xử lý vật chứng và các vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với đối tượng giám định còn lại sau giám định, gồm: A1 = 0,1376 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 1395/2024”, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói niêm phong và hình dấu tròn đỏ của phòng K - Công an tỉnh V là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 xi lanh chưa qua sử dụng mục đích để sử dụng ma tuý xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông tên M (không rõ lai lịch) đi mua ma túy để cùng sử dụng với S, Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có cở sở để xác minh, xử lý.
[8] Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và bị có có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn S 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23 tháng 5 năm 2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng giám định còn lại sau giám định, gồm: A1 = 0,1376 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢVỤ 1395/2024” và 01 xi lanh chưa qua sử dụng.
(Vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc lập ngày 09/9/2024).
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Văn S.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thanh M |
Bản án số 70/2024/HS - ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 70/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn S
