|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-9-2024 “V/v tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Tấn Lợi;
Ông Nguyễn Hữu Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tô Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 24/5/2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tô Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông T chung sống với nhau từ năm 1992, có đăng ký kết hôn tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do ông T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, thường xuyên gây gỗ, cãi vã và xô xát với nhau, đã ly thân từ tháng 8/2023 đến nay không đoàn tụ được. Nay bà thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Ông bà có 03 con chung là Hồ Thị H1, sinh ngày 08/6/1993; Hồ Thị H2, sinh ngày 05/3/1995 và Hồ Quốc Đ, sinh ngày 11/6/1998. Nay 03 con chung đều đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hồ Văn T vắng mặt nên không có lời trình bày.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xét xử theo hướng:
- + Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tô Thị H đối với ông Hồ Văn T.
- + Về con chung: 03 con chung của ông bà đều đã thành niên, bà H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- + Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà H là Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông T vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông T.
[2] Về hôn nhân:
[2.1] Bà H khai nhận, bà và ông T chung sống với nhau từ năm 1992, có đăng ký kết hôn ngày 29/6/1992 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn bà cung cấp.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, bà H khai nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do ông T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, thường xuyên gây gỗ, cãi vã và xô xát với nhau, đã ly thân từ tháng 8/2023 đến nay không đoàn tụ được. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông T. Ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc nên không có lời trình bày. Qua kết quả xác minh tại địa phương có đủ căn cứ xác định lời trình bày của bà H là có căn cứ. Do đó, đã có đủ cơ sở xác định ông bà không xây dựng được hạnh phúc gia đình, tình trạng hôn nhân giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Ông bà có 03 con chung là Hồ Thị H1, sinh ngày 08/6/1993; Hồ Thị H2, sinh ngày 05/3/1995 và Hồ Quốc Đ, sinh ngày 11/6/1998. Nay cả 03 con chung của ông bà đều đã thành niên, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tô Thị H đối với ông Hồ Văn T. Bà Tô Thị H được ly hôn với ông Hồ Văn T.
- Về con chung: Ba con chung của bà Tô Thị H và ông Hồ Văn T là Hồ Thị H1, sinh ngày 08/6/1993; Hồ Thị H2, sinh ngày 05/3/1995 và Hồ Quốc Đ, sinh ngày 11/6/1998 đều đã thành niên, bà Tô Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tô Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bà Tô Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006240 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (do Hồ Xuân T1 nộp thay); bà Tô Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho bà H, ông T biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Chung |
Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn Tô Thị H - Hồ Văn T