TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2024/HS - ST Ngày: 23/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi và ông Dương Viết Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thành - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/HSST- QĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn N, sinh năm 2005, tên gọi khác: không
Nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T, sinh năm 1982 và bà Dương Thị L, sinh năm 1988; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/05/2024 đến ngày 19/7/024, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương - có mặt
Người bị hại: Anh Dương Văn G, sinh năm 1984 - Có mặt
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Dương Văn T, sinh năm 1982 – Có mặt
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người làm chứng:
Anh Dương Văn S, sinh năm 1996 – vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Anh Dương Văn K, sinh năm 1992 – vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Cháu Dương Hoàng S1, sinh ngày 12/5/2008 – vắng mặt
Người giám hộ cho cháu S1: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ ngày 14/5/2024, Dương Văn N đi bộ một mình đến nhà anh Dương Văn G là hàng xóm với mục đích trộm cắp tài sản do trước đó N biết cháu Dương Hoàng S1 (con trai của anh G) khoe việc anh G có tiền tiết kiệm trong lợn đất cất trong tủ nhà anh G. Khi đến nơi, thấy cổng nhà anh G chỉ khép mà không khóa và không thấy có ai ở nhà, N mở cổng đi ra khu vực phía sau nhà. N thấy cửa ngách sau nhà anh G chỉ móc ổ khóa mà không khóa, N nhặt 01 cành cây gần đó rồi dùng cành cây gạt khóa cửa, đi vào bên trong nhà. N đi vào phòng ngủ của Dương Hoàng S1 để tìm kiếm tài sản trộm cắp nhưng không thấy. N tiếp tục đi vào phòng ngủ của anh G mở tủ nhựa ra và tìm thấy chùm chìa khóa gồm 02 chìa khóa bằng kim loại trong túi quần bò treo trong tủ rồi dùng 02 chìa khóa này mở ngăn tủ giữa ra thì thấy có 02 con lợn tiết kiệm bằng thạch cao, trong đó có 01 con màu đỏ và 01 con màu vàng. N mang 02 con lợn tiết kiệm này ra khu vực kho phía sau phòng khách, dùng dao có sẵn tại kho đập vỡ 02 con lợn tiết kiệm vừa lấy trộm thì thấy bên trong con lợn màu vàng có số tiền 13.000.000 đồng, con lợn màu đỏ có số tiền 3.100.000 đồng. Tổng số tiền trong 02 con lợn là 16.100.000 đồng (mười sáu triệu một trăm nghìn đồng), N cất toàn bộ số tiền này vào túi quần đang mặc rồi quay vào phòng anh G khóa tủ cất chìa khóa vào vị trí ban đầu rồi đi ra vị trí đập lợn nhặt các mảnh vỡ của lợn đất ra vườn vứt vào bụi cây. Sau đó, N đi ra khép cửa cổng phía sau nhà anh G rồi một mình đến cửa hàng điện thoại Sỹ Apple của anh Dương Văn S tại xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và mua của anh S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng với giá 15.500.000 đồng, số tiền 600.000 đồng còn lại N đã tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 17/5/2024, N rủ Lê Bá H mang chiếc điện thoại này đến để cầm cố cho anh Dương Văn K được số tiền 13.000.000 đồng (H không biết nguồn gốc điện thoại do N thực hiện hành hành vi phạm tội mà có). Do trước đó N vay anh K 1.000.000 đồng và H có cho N mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đen bạc BKS 20G1-610.25 (là xe của mẹ đẻ H giao cho H quản lý sử dụng) cắm cho anh K được số tiền 8.600.000 đồng nên sau khi trừ đi số tiền nợ và tiền cắm xe anh K đưa lại cho N 3.400.000 đồng, đồng thời N đồng ý cho anh K bán chiếc điện thoại để hết nợ, anh K sau đó đã bán chiếc điện thoại trên cho người không quen biết. Số tiền 3.400.000 đồng N và H đã tiêu sài cá nhân hết.
Quá trình điều tra, anh Dương Văn G và anh Dương Văn S đã cung cấp video an ninh về đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh G và mua điện thoại của anh S. Kết quả mở video xác định hình ảnh người đến nhà anh G vào hồi 07 giờ 42 phút ngày 14/5/2024 và hình ảnh đối tượng mua điện thoại của anh S vào hồi 8 giờ 21 phút ngày 14/5/2024 Ngọc xác định chính là N vào nhà anh G để trộm cắp tài sản sau đó đi mua điện thoại.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Dương Văn N đã nhờ bố đẻ là ông Dương Văn T thay mặt N bồi thường số tiền 16.100.000 đồng cho bị hại Dương Văn G. Anh G đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Vật chứng của vụ án: 01 quần bò dài màu đen, cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp catton kí hiệu “DVN”; 01 con dao bằng kim loại dài 61,5cm, phần lưỡi dao dài 36cm, bản rộng 09cm, dao có 02 chuôi ở hai đầu, bằng gỗ, đường kính 2,5cm, tình trạng cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong thùng catton ký hiệu “DAO”; 01 cây gỗ khô dài 1,1m, đường kính hai đầu cây gỗ lần lượt là 2,7cm và 1,1cm được niêm phong trong thùng catton ký hiệu “C”; Các mảnh vỡ thạch cao màu vàng, đỏ được niêm phong trong thùng bìa catton ký hiệu “MV1”; các mảnh vỡ thạch cao được niêm phong trong hộp catton ký hiệu “MV2” được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 69/CT-VKSPB, ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Dương Văn N về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và trước phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như bản cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên toà bị hại Dương Văn G khai: Khoảng 17 giờ ngày 14/5/2024, khi anh đi làm về thì phát hiện bị mất 02 con lợn tiết kiệm để trong tủ quần áo tại phòng ngủ của gia đình, anh không biết bị mất từ khi nào nên đã báo công an xã. Sau này phát hiện ra người trộm cắp là Dương Văn N. Nay anh đã nhận đủ tiền mà bố bị cáo N đã bồi thường cho số tài sản đã trộm cắp nên không yêu cầu gì thêm.
Kết thúc xét hỏi, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trình bày luận tội đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Dương Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn N từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh G đã nhận số tiền bồi thường chiếc điện thoại là 16.100.000 đồng, tại phiên tòa anh G không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 quần bò dài màu đen, cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 hộp catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu DVN; 01 con dao bằng kim loại dài 61,5cm, phần lưỡi dao dài 36 cm, bản rộng 09cm, dao có 02 chuôi ở hai đầu, bằng gỗ, đường kính 2,5cm, tình trạng cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 thùng catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu DAO; 01 cây gỗ khô dài 1,1 m, đường kính hai đầu cây gỗ lần lượt là 2,7cm và 1,1 cm, được niêm phong trong 01 thùng catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu C; các mảnh vỡ thạch cao màu vàng, đỏ được niêm phong trong 01 thùng bìa catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu MV1; các mảnh vỡ thạch cao được niêm phong trong 01 hộp catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu MV2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đối với việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng, Hội đồng xét xử thấy những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện của vụ án. Do đó, căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự và chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người làm chứng trong vụ án.
[3]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn N thừa nhận: Khoảng 07 giờ ngày 14/05/2024, lợi dụng gia đình anh Dương Văn G vắng nhà, Dương Văn N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 con lợn đất bên trong có chứa tổng số tiền là 16.100.000 đồng của anh G. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là khách quan, thống nhất với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hại và người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Như vậy ý thức, hành vi của của Dương Văn N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật. Nội dung điều luật quy định như sau:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý theo quy định của pháp luật hình sự để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại nên bị cáo N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Từ các phân tích trên thấy có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, tài sản bị cáo trộm cắp không lớn và được khắc phục xong, xét thấy nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận đủ tiền bị cáo đã trộm cắp và không còn yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra thu giữ: 01 quần bò dài màu đen, cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 hộp catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu DVN; 01 con dao bằng kim loại dài 61,5cm, phần lưỡi dao dài 36 cm, bản rộng 09cm, dao có 02 chuôi ở hai đầu, bằng gỗ, đường kính 2,5cm, tình trạng cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 thùng catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu DAO; 01 cây gỗ khô dài 1,1 m, đường kính hai đầu cây gỗ lần lượt là 2,7cm và 1,1 cm, được niêm phong trong 01 thùng catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu C; các mảnh vỡ thạch cao màu vàng, đỏ được niêm phong trong 01 thùng bìa catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu MV1; các mảnh vỡ thạch cao được niêm phong trong 01 hộp catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu MV2. Xét đây là quần áo của bị cáo Ngọc m, dụng cụ khi bị cáo thực hiện tội phạm có giá trị sử dụng không lớn cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Đối với anh Dương Văn S là người bán điện thoại cho N, anh Dương Văn K là người cho N cắm điện thoại, Lê Bá H là người đi cùng N đi cắm điện thoại xác định những người này không biết nguồn gốc số tiền mua điện thoại của N là do N trộm cắp mà có được. Anh Dương Hoàng S1 là người nói chuyện với N về việc bố S1 là anh G có 02 con lợn đất để tiền tiết kiệm nhưng mục đích là để khoe chứ không biết việc N trộm cắp tài sản. Vì vậy không phạm tội.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ pháp luật áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65; Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 123, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 92, Điều 93 của Luật Thi hành án hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Dương Văn N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (là ngày 23 tháng 8 năm 2024). Giao bị cáo Dương Văn N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (là bị cáo Dương Văn N) nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 của Luật thi hành án hình sự.
Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Dương Văn N: Buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 23 tháng 8 năm 2024 cho đến khi bị cáo chấp hành bản án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
3. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 quần bò dài màu đen, cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 hộp catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu DVN; 01 con dao bằng kim loại dài 61,5cm, phần lưỡi dao dài 36 cm, bản rộng 09cm, dao có 02 chuôi ở hai đầu, bằng gỗ, đường kính 2,5cm, tình trạng cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 thùng catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu DAO; 01 cây gỗ khô dài 1,1 m, đường kính hai đầu cây gỗ lần lượt là 2,7cm và 1,1 cm, được niêm phong trong 01 thùng catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu C; các mảnh vỡ thạch cao màu vàng, đỏ được niêm phong trong 01 thùng bìa catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu MV1; các mảnh vỡ thạch cao được niêm phong trong 01 hộp catton còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu MV2.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 giữa Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.)
4. Về án phí: buộc bị cáo phải nộp 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Mây |
Bản án số 70/2024/HS - ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 70/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
