Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày: 09/7/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phượng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nguyên;
Ông Hoàng Xuân Trường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Là - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 12/6/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Minh T, sinh năm 1999, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: TDP Tân, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Hoàng Văn L, và bà Đặng Thị H; có vợ là: Triệu Thị Á; có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phan Kế H1 thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Tống G, sinh năm 2001; trú tại: thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng thương mại cổ phần V1 (V2), chi nhánh H6, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ – Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ: số B N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; có mặt.
  2. Công ty TNHH L2; trụ sở: Số D Y, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn Đ1 - Chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: 21a, 21b T, phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc B, sinh năm 1974; trú tại: Số E H, phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
  3. Ông Lưu Văn N, sinh năm 1970; trú tại: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
  4. Ông Đỗ Việt H2, sinh năm 2002; trú tại: thôn D, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bà Đàm Thị Y, sinh năm 2004; trú tại: thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
  2. Ông Nguyễn Nam K, sinh năm 1996; trú tại: thôn D, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  3. Ông Trần Trung K1, sinh năm 1968; trú tại: thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
  4. Bà Triệu Thị Á, sinh năm 2001; trú tại: T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 12/2021, Hoàng Minh T, sinh năm 1999, trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang mua 01 chiếc xe ô tô Huyndai Accent, BKS: 98A-459.71 của Công ty cổ phần Ô với giá 406.000.000 đồng bằng hình thức trả góp tại Ngân hàng TMCP V1 (V2) chi nhánh H6, thành phố Hà Nội. T xác định: Do bản thân muốn trải nghiệm đi nhiều loại xe nên sau khi sử dụng xe một thời gian, ngày 22/5/2023 T lên mạng xã hội Facebook liên hệ với chủ tài khoản Facebook có tên “Gia Bảo” (T không rõ lai lịch của người này) để thỏa thuận về việc đổi chiếc xe Huyndai Accent BKS: 98A-459.71 lấy 01 chiếc xe ô tô khác nhãn hiệu Mazda3 màu vàng, BKS: 49A-160.03 để đi trong thời gian 02 tháng. Do chiếc xe Mazda 3 có giá trị cao hơn chiếc xe Huyndai Accent nên T phải đưa 50.000.000 đồng cho chủ tài khoản "Gia Bảo" để làm tin. Hai bên hẹn giao đổi xe tại vòng xuyến gần khu vực V thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, T đến điểm hẹn thì gặp 01 nam thanh niên không quen biết (sau này nhận dạng qua ảnh xác định là Lưu Văn N, sinh năm 1970, HKTT: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định). Nhuận giới thiệu bản thân chỉ là người mang chiếc xe Mazda 3 đến đổi hộ cho chủ tài khoản Facebook “Gia Bảo”. T và N trao đổi giấy tờ xe ô tô. T giao cho N các giấy tờ của xe ô tô Huyndai Accent, BKS: 98A-459.71 gồm: 01 Giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông thế chấp ngày 15/8/2022 của Ngân hàng V2 (Giấy biên nhận thế chấp), 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tai nạn tự nguyện xe ô tô, 01 bản sao Chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 Biên bản giao nhận xe thành phẩm của Công ty cổ phần Ô (biên bản giao bị rách làm hai nửa). Nhuận giao cho T các giấy tờ của xe ô tô Mazda 3, BKS: 49A-160.03 gồm: 01 bản photo căn cước công dân Trần Ngọc V, sinh năm 1976, HKTT: Thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 giấy cho thuê xe viết tay với nội dung: Ngày 16/3/2022, ông Nguyễn Khắc H3, sinh năm 1982, trú tại: P606 N Khu G, 2HA, phường V - B - Hà Nội cho anh Trần Ngọc V, sinh năm 1976, nơi thường trú: Thôn T - G - Quảng Ninh - Quảng Bình thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu vàng cát, BKS: 49A-160.03 trong thời hạn 30 năm với tổng số tiền thuê xe là 250.000.000; Ông V cho thuê lại chiếc xe Mazda 3 nêu trên với giá 250.000.000 đồng (phần thông tin người thuê xe được bỏ trống, sau này Hoàng Minh T đã tự điền tên mình vào thông tin người thuê xe), thời gian thuê dài hạn (không nêu cụ thể mốc thời gian). Để đảm bảo việc quản lý, sử dụng xe được thuận lợi, N hướng dẫn T viết “giấy bán xe” vào mặt sau giấy biên nhận thế chấp của chiếc xe Huyndai Accent (giao cho N quản lý) với nội dung: T đồng ý bán chiếc xe Huyndai Accent (bỏ trống phần thông tin người mua). N viết một “giấy cam kết” vào mặt sau giấy cho thuê xe viết tay của chiếc xe Mazda 3 (giao cho T quản lý) với nội dung: Nhuận đồng ý nhượng lại chiếc xe Mazda 3 cho T.

Sau khi đổi xe, ngày 23/5/2023, chủ tài khoản “Gia Bảo” đăng và bán chiếc xe ô tô Huyndai Accent BKS 98A-459.71 cho anh Trần Tống G, sinh năm 2001, trú tại: thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên với giá 174.000.000 đồng. Hai bên hẹn giao xe tại khu vực chân cầu T, thuộc huyện T, thành phố Hà Nội. Khoảng 16 giờ ngày 23/5/2023, anh G cùng vợ là chị Đàm Thị Y, sinh năm 2004 đến khu vực đường C, quận L thì gặp anh Nguyễn Nam K, sinh năm 1996, trú tại: thôn D, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Anh K giới thiệu là người được một nam thanh niên không quen biết dùng tài khoản Zalo tên “Ông nội trưởng bản” gọi điện thuê đến đón vợ chồng anh G, sau đó điều khiển xe ô tô BKS 30G- 036.34 chở anh G, chị Y đi đến khu vực chân cầu T gặp 1 nam thanh niên (sau nhận dạng qua ảnh xác định là Lưu Văn N) điều khiển chiếc xe ô tô Huyndai Accent BKS 98A- 459.71 đi đến. Nhuận đưa cho anh G các giấy tờ liên quan đến xe ô tô BKS: 98A- 459.71 gồm: 01 giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp (Giấy biên nhận thế chấp) ngày 15/8/2022 của Ngân hàng V2, mặt phía sau ghi nội dung “giấy bán xe” thể hiện: Ngày 22/5/2023 Hoàng Minh T đồng ý bán chiếc xe Huyndai Accent (bỏ trống phần thông tin người mua); 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tai nạn tự nguyện xe ô tô, 01 bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 biên bản giao nhận xe thành phẩm (bản chính, bị rách đôi) do Công ty cổ phần Ô giao ngày 30/12/2021, đồng thời anh G chuyển khoản số tiền 174.000.000 đồng vào tài khoản số [...] tại ngân hàng V3 mang tên DO VIET HOANG do chủ tài khoản zalo “Ông nội trưởng bản” cung cấp thông qua anh K để thanh toán tiền mua xe ô tô. Anh G xác định, khi mua xe N có nói cho anh biết chiếc xe ô tô đang thế chấp tại ngân hàng, tuy nhiên chủ xe đã thanh toán xong, hẹn khoảng 01 tháng sau sẽ chuyển giấy đăng ký xe cho anh G.

Đối với Hoàng Minh T, đến hạn đổi lại xe T đã chủ động liên lạc với chủ tài khoản “Gia Bảo” nhưng không liên lạc được. Vì vậy, khoảng 12 giờ ngày 24/8/2023, thông qua thiết bị định vị T xác định được chiếc xe ô tô BKS 98A- 459.71 của mình ở trước cổng nhà anh G tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên. T điều khiển chiếc xe M BKS: 49A-160.03 chở vợ là Triệu Thị Á, sinh năm 2001 và mang theo chìa khóa dự phòng của xe ô tô BKS: 98A- 459.71 đến khu vực cổng nhà anh G. Thấy xe ô tô BKS: 98A- 459.71 đang dừng đỗ ở cổng, T bảo Á điều khiển xe Mazda BKS: 49A-160.03 về, một mình T đi bộ đến trước cổng nhà anh G và lén lút dùng chìa khóa dự phòng mở khóa điện, điều khiển chiếc xe ô tô đi ra đường thì bị anh G cùng gia đình phát hiện. Anh G điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda RSX màu đỏ, BKS 89G-029.90 của gia đình đuổi theo T đến gần Ủy ban nhân dân xã Đ thì vượt lên trước và quay ngang xe chặn trước đầu xe của T. Do quay xe đột ngột nên xe máy của anh G bị đổ ra đường, thấy vậy T điều khiển ô tô chậm lại. G đứng dậy, nhảy lên nằm sấp trên nắp capo của xe ô tô BKS 98A-459.71, hai tay bám vào cần gạt mưa mục đích không cho T lái xe bỏ chạy. T tăng tốc, quay đầu xe, lạng lách hai bên đường với mục đích để anh G sợ phải nhảy ra khỏi xe nhưng anh G vẫn nắm chặt cần gạt mưa, nằm trên nắp capo kêu cứu. Vì vậy khi đến đoạn đường hẹp thuộc thôn V, xã V, huyện Â, T buộc phải dừng xe lại. Sau đó, lực lượng Công an xã V và Công an huyện  đưa T về trụ sở để làm việc.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG đề ngày 30/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu sơn trắng, BKS: 98A-459.71 trị giá 360.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • Hoàng Minh T tự nguyện giao nộp: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng; 01 Khẩu trang màu trắng, 01 Áo chống nắng dài tay, hoa văn nhiều màu do T sử dụng đến nhà anh G lấy xe ô tô;
  • Anh Trần Tống G tự nguyện giao nộp:
    • 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Acent BKS: 98A-45971, sơn màu trắng, số khung: RLUA641BAMN068825, số máy: G4LCMU536661và 02 chiếc chìa khóa xe ô tô. Các giấy tờ xe gồm: 01 Giấy biên nhận thế chấp, mặt sau ghi nội dung giấy cam kết ghi ngày 22/5/2023, người viết ký tên Hoàng Minh T; 01 Bản sao (có chứng thực) đăng ký xe ô tô; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 98A-459.71 (bản chính); 02 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS; 01 Biên bản giao nhận xe thành phẩm (bị rách làm 02 nửa).
    • 01 Thẻ nhớ màu xanh đen dán tem ghi chữ 2022 QM (đã niêm phong trong phong bì ký hiệu TN3). Kết quả trích xuất xác định trong thẻ nhớ lưu trữ 07 đoạn video ghi lại quá trình Hoàng Minh T lấy chiếc xe Huyndai Accent, BKS 98A-459.71, trích xuất từ chiếc thẻ nhớ do anh Trần Tống G giao nộp, được lưu trong 01 USB (niêm phong trong phong bì ký hiệu S).
  • Ngoài ra, anh G còn cung cấp cho Cơ quan điều tra 01 đoạn video ghi lại việc anh G mua xe ô tô được trích xuất từ điện thoại di động của anh G. Cơ quan điều tra đã lưu đoạn video trên trong 01 chiếc USB nhãn hiệu Kingston (niêm phong trong phong bì ký hiệu S).
  • Chị Triệu Thị Á (vợ T) tự nguyện giao nộp:
    • 01 Xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, sơn màu vàng, BKS: 49A-160.03, số khung: RN2BM4AA6HC050648, số máy: P250403153 và 01 chiếc chìa khóa xe ô tô. Các giấy tờ liên quan đến xe ô tô gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS; 01 Tờ giấy kẻ ngang chứa các nội dung cho thuê xe; 01 Bản phô tô CCCD mang tên Trần Ngọc V, mặt giấy phía sau có các dòng chữ viết về việc cho thuê xe.
    • 01 Giấy biên nhận thế chấp đối với xe M 3, BKS: 49A-160.03. Giấy có chữ ký ghi của bà Hoàng Thị T1 và đóng dấu ghi của Ngân hàng TMCP Đ2 - Chi nhánh P (ký hiệu K4);
    • 01 Bản sao Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014348 đối với xe ô tô Mazda 3, BKS: 49A-160.03. Trên giấy chứng nhận có chữ ký ghi của ông Nguyễn Đức H4 – Công chứng viên và đóng dấu ghi của Văn phòng C (ký hiệu K5).
    • 01 giấy phép lái xe số [...], hạng B2, tên Hoàng Minh T.

Tại Bản kết luận giám định số 182/KL-KTHS(KTS) ngày 18/9/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận:

  • Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định (gồm 07 đoạn video trong chiếc USB được niêm phong ký hiệu USB1 và 01 đoạn video trong chiếc USB được niêm phong ký hiệu USB2. Hiện 02 chiếc USB này được niêm phong trong phong bì ký hiệu S).
  • Mô tả nội dung hình ảnh trong các đoạn video gửi giám định (có bản ảnh kèm theo Bản kết luận giám định).
  • Vận tốc của xe ô tô (trên màn hình trình chiếu video) ở các thời điểm có người thanh niên trên nắp capo: Cao nhất là 125km/h và thấp nhất là 0km/h.

Tại Bản Kết luận giám định số 269/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận:

Chữ ký, chữ viết đứng tên Hoàng Minh T trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (giấy cam kết ghi ngày 22/5/2023 có nội dung Hoàng Minh T bán chiếc xe Huyndai Accent, sơn màu trắng, BKS: 98A-459.71) so với chữ ký, chữ viết của Hoàng Minh T trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký, viết ra.

Tại Bản Kết luận giám định số 101/KL-KTHS ngày 12/02/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận:

  • Xe ô tô nhãn hiệu Mazda, loại xe: ô tô con, màu: vàng, gắn BKS: 49A-160.03 có hàng số khung: RN2BM4AA6HC050648, số máy: P520403153 là số nguyên thủy;
  • Xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, loại xe: ô tô con, màu: trắng, gắn BKS: 98A-459.71 có hàng số khung: RLUA641BAMN068825, số máy: G4LCMU536661 là số nguyên thủy.

Tại Bản Kết luận giám định số 140/KL-KTHS ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận:

  • Hình dấu tròn đỏ trên mẫu cần giám định Giấy biên nhận thế chấp số 1822/2021/HDTD.TN đối với xe Mazda 3, BKS: 49A-160 (ký hiệu K4) so với mẫu dấu tròn của Ngân hàng TMCP Đ2 - Chi nhánh P trên mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải là do cùng một con dấu đóng ra;
  • Chữ ký ghi họ tên Nguyễn Đức H4 trên mẫu cần giám định Bản sao Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014348 (ký hiệu K5) so với chữ ký của ông Nguyễn Đức H4 trên mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải là do cùng một người viết ra;
  • Hình dấu tròn đỏ trên mẫu cần giám định ký hiệu K5 so với mẫu dấu tròn của Văn phòng C trên mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải là do cùng một con dấu đóng ra;

Tiến hành sao kê tài khoản số [...] tại ngân hàng V3 mang tên DO VIET HOANG, thể hiện: Tài khoản DO VIET HOANG sau khi nhận số tiền 174.000.000 đồng đã phát sinh 03 giao dịch chuyển tiền đi đến tài khoản số [...] tại ngân hàng TMCP Q (M1) mang tên LUU VAN NHUAN với tổng số tiền là 156.000.000 đồng. Tra cứu thông tin tại ngân hàng M1 xác định chủ tài khoản số [...] là Lưu Văn N, sinh năm 1970, địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Xác minh, Công an xã N cung cấp 01 ảnh chân dung của Lưu văn N1. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Hoàng Minh T, anh Trần Tống G, chị Đào Thị Y1 và anh Nguyễn Nam K nhận dạng qua ảnh. Kết quả: anh Trần Tống G, chị Đào Thị Y1, anh Nguyễn Nam K và Hoàng Minh T đều xác định Lưu Văn N là người giao xe ô tô Mazda 3 BKS 49A- 160.03 cho T và giao xe ô tô Huyndai Accent BKS 98A- 459.71 cho vợ chồng anh G.

Đối với xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 BKS: 49A-160.03: Quá trình điều tra xác định chiếc xe không phải là vật chứng trong vụ án khác, đăng ký chủ sở hữu là Công ty TNHH L3, địa chỉ tại: Số DY, phường A, TP ., tỉnh Lâm Đồng. Công ty mua xe bằng hình thức trả góp tại ngân hàng S từ năm 2016 và giao cho ông Trần Ngọc B, sinh năm 1974, địa chỉ: Số E H - Phường I - TP . - Lâm Đồng là cộng tác viên của công ty để ông B đi lại, phục vụ cho nhu cầu công việc tuần tra, giám sát, nhắc nhở bảo vệ trực đêm tại công ty. Khoảng đầu năm 2020, ông B cho bà Phạm Thị Thu H5, sinh năm 1975, nơi thường trú: Số E N - L - Đ - Lâm Đồng mượn chiếc xe Mazda 3 nêu trên với lý do để cầm cố vay tiền. Bản thân ông B không biết và không được bà H5 nói là mang xe đi cầm cố. Từ đó đến nay, ông B không liên lạc được với bà H5, cũng như không biết bà H5 đang ở đâu, làm gì. Công ty TNHH L3 không có ý kiến gì về việc ông B cho mượn xe để cầm cố, Công ty đề nghị xin được nhận lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, BKS: 49A-160.03, đồng thời ủy quyền cho ông Trần Ngọc B trực tiếp nhận lại chiếc xe ô tô nêu trên. Ông Trần Ngọc B tự nguyện cung cấp: 01 Bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký xe đối với xe ô tô nhãn hiệu Mazda3, BKS: 49A-160.03.

Đối với bà Phạm Thị Thu H5, ông Nguyễn Khắc H3, ông Trần Ngọc V và Lưu Văn N và đối tượng đăng ký chủ tài khoản facebook có tên “Gia Bảo” là những người liên quan đến xe ô tô Mazda 3, BKS: 49A-160.03, cùng các giấy tờ xe bị làm giả gồm: Giấy biên nhận thế chấp số 1822 /2021/HDTD.TN, Bản sao Chứng nhận đăng ký xe số 014348. Cơ quan điều tra nhiều lần triệu tập, xác minh nhưng những người này đều vắng mặt tại nơi cư trú, không xác định được hiện đang làm gì, ở đâu. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với: Hoàng Minh T và Triệu Thị Á sử dụng 01 giấy biên nhận thế chấp số 1822/2021/HDTD.TN và 01 bản sao đăng ký xe số 014348 đối với xe ô tô Mazda 3, BKS: 49A-160.03 đều không biết những giấy tờ trên là giả nên không có căn cứ xử lý chị Á và T về hành vi Sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức.

Chị Triệu Thị Á là người đi cùng T đến khu vực nhà anh G ngày 24/8/2023 nhưng không biết T đến để cướp tài sản nên không có căn cứ xử lý.

Đến nay anh Trần Tống G đề nghị xác minh làm rõ hành vi của đối tượng đã bán xe ô tô cho anh và yêu cầu trả lại anh số tiền 174.000.000 đồng. Quá trình anh G đuổi theo, đu bám trên capo xe ô tô BKS 98A- 459.71 có bị xây sát nhẹ, anh từ chối giám định và không yêu cầu, đề nghị về thương tích; Ngân hàng V2 đề nghị xin nhận lại chiếc xe ô tô Huyndai Accent, BKS 98A- 459.71 để thanh lý theo Hợp đồng thế chấp T đã ký với Ngân hàng.

Đối với tài khoản ngân hàng V4 mang tên DO VIET HOANG: Quá trình điều tra không có căn cứ xác định người đứng tên chủ tài khoản là anh Đỗ Việt H2, sinh năm 2002, nơi thường trú: Thôn D, T, S, Hà Nội sử dụng tài khoản trên để tham gia giao dịch mua bán xe ô tô với Lưu Văn N và anh Trần Tống G, chưa xác định được người hiện đang sử dụng số tài khoản trên, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Minh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 56/CT-VKS-P3 ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Hoàng Minh T về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội: “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T từ 13 đến 14 năm tù, thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 25/8/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại Ngân hàng và công ty L2 xe ô tô là vật chứng của vụ án và xử lý các vật chứng khác theo quy định.

Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về buộc bị cáo chịu án phí.

Người bào chữa cho bị cáo T: Về tội danh và điều luật áp dụng không có ý kiến tranh luận. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị hại, anh Trần Tống G không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát; anh G xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường là 20.000.000 đồng tại tòa từ phía bị cáo; đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khác.

Ngân hàng V2 xin nhận lại chiếc xe ô tô Huyndai Accent, BKS 98A- 459.71 để thanh lý theo Hợp đồng thế chấp T đã ký với Ngân hàng.

Bị cáo nhất trí, không bổ sung với bản bào chữa của người bào chữa; không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát; không tranh luận với yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Lời khai của người làm chứng; Biên bản vụ việc ngày 24/8/2023 tại Công an xã M; các Bản kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh H; Kết luận định giá tài sản; các video được trích xuất từ camera hành trình; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 24/8/2023, tại khu vực trước cổng nhà anh Trần Tống G ở thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên, Hoàng Minh T đã có hành vi lén lút sử dụng chìa khóa dự phòng mở ổ khóa điện, sau đó tự ý điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent màu trắng, BKS 98A- 459.71 trị giá 360.000.000 đồng do anh Trần Tống G quản lý đi ra đường và bị anh G phát hiện. Anh G nhảy lên nắp capo xe để giữ lại chiếc xe ô tô nhưng T không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe phóng nhanh có thời điểm tốc độ xe cao nhất lên đến 125km/giờ và lạng lách, làm cho anh G lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt chiếc xe ô tô trên.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ. Bị cáo biết rõ việc tự ý điều khiển, lấy đi chiếc xe ô tô thuộc quyền quản lý, sử dụng của người khác là không được pháp luật cho phép nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Khi bị phát giác và ngăn cản, bị cáo đã có hành vi nguy hiểm khiến cho người quản lý tài sản lâm vào tình trạng không thể chống cự được, để bị cáo có thể chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân và có nguy cơ phát sinh tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã thỏa thuận và bồi thường xong khoản tiền thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội được tặng Huân chương chiến công hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và tiếp tục cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với yêu cầu của: Ngân hàng V2 xin nhận lại chiếc xe ô tô Huyndai Accent, BKS 98A- 459.71 để thanh lý theo Hợp đồng thế chấp T đã ký với Ngân hàng; Công ty TNHH L3 xin nhận lại chiếc xe ô tô Mazda 3, BKS: 49A-160.03 vì đây tài sản của Công ty và Công ty không biết việc chiếc xe này đã bị sử dụng trái với mục đích giao xe ban đầu. Đây là các yêu cầu có căn cứ, cần xem xét và chấp nhận.

Đối với yêu cầu của anh G về việc yêu cầu đối tượng đã bán xe ô tô cho anh phải trả lại anh số tiền 174.000.000 đồng: Anh G không xác định được người quản lý, sử dụng tài khoản facebook “Gia Bảo” và người quản lý, sử dụng tài khoản số [...] mở tại ngân hàng V3 có tên DO VIET HOANG là ai, tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này. Sau này, nếu anh G có yêu cầu thì được giải quyết bằng 01 vụ án dân sự khác.

Tại phiên tòa, bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại 20.000.000 đồng theo thỏa thuận với bị cáo, vì vậy cần ghi nhận nội dung này.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh; 01 Giấy phép lái xe số [...], hạng B2, tên Hoàng Minh T đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
  • 01 khẩu trang màu trắng, 01 áo chống nắng dài tay, hoa văn nhiều màu do T sử dụng đến nhà anh G lấy xe ô tô. Xét thấy các đồ vật này không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;
  • 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Acent BKS: 98A-45971, sơn màu trắng, số khung: RLUA641BAMN068825, số máy: G4LCMU536661và 02 chiếc chìa khóa xe ô tô. Đây là tài sản nhận thế chấp hợp pháp của Ngân hàng V2, cần trả lại cho Ngân hàng;
  • 01 Xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, sơn màu vàng, BKS: 49A-160.03, số khung: RN2BM4AA6HC050648, số máy: P250403153 và 01 chiếc chìa khóa xe ô tô. Đây là tài sản hợp pháp của Công ty L3 không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho Công ty TNHH L3;
  • Các giấy tờ liên quan đến xe ô tô Huyndai Acent BKS: 98A-45971 gồm: 01 Giấy biên nhận thế chấp, mặt sau ghi nội dung giấy cam kết ghi ngày 22/5/2023, người viết ký tên Hoàng Minh T; 01 Bản sao (có chứng thực) đăng ký xe ô tô; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 98A-459.71 (bản chính); 02 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS; 01 Biên bản giao nhận xe thành phẩm (bị rách làm 02 nửa). Đây là tài liệu vật chứng của vụ án, cần được tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
  • 01 Thẻ nhớ màu xanh đen dán tem ghi chữ 2022 QM được niêm phong trong phong bì, bên trong thẻ nhớ lưu trữ 07 đoạn video ghi lại quá trình T lấy chiếc xe Huyndai Accent, BKS 98A-459.71, trích xuất từ chiếc thẻ nhớ do anh G giao nộp, lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston được niêm phong trong phong bì. Đây là tài liệu vật chứng của vụ án, cần được lưu theo hồ sơ vụ án.
  • 01 chiếc USB nhãn hiệu Kingston chứa 01 đoạn video ghi lại việc anh G mua xe ô tô được trích xuất từ điện thoại di động của anh G được niêm phong trong phong bì. Đây là tài liệu vật chứng của vụ án, cần được lưu theo hồ sơ vụ án.
  • Các giấy tờ liên quan đến xe ô tô Mazda 3, sơn màu vàng, BKS: 49A-160.03 gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS; 01 Tờ giấy kẻ ngang chứa các nội dung cho thuê xe; 01 Bản phô tô CCCD mang tên Trần Ngọc V, mặt giấy phía sau có các dòng chữ viết về việc cho thuê xe. Đây là tài liệu vật chứng của vụ án, cần được tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
  • 01 Giấy biên nhận thế chấp đối với xe M 3, BKS: 49A-160.03. Giấy có chữ ký ghi của bà Hoàng Thị T1 và đóng dấu ghi của Ngân hàng TMCP Đ2 - Chi nhánh P. Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
  • 01 Bản sao Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014348 đối với xe ô tô Mazda 3, BKS: 49A-160.03. Trên giấy chứng nhận có chữ ký ghi của ông Nguyễn Đức H4 – Công chứng viên và đóng dấu ghi của Văn phòng C. Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Cướp tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 25/8/2023.

  3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đã bồi thường xong cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tại phiên tòa;
    • Tịch thu cho tiêu hủy: 01 khẩu trang màu trắng, 01 áo chống nắng dài tay, hoa văn nhiều màu;
    • Trả lại cho bị cáo Hoàng Minh T: 01 Giấy phép lái xe (Tòa án trả cho bị cáo); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh;
    • Trả lại Ngân hàng V2: 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Acent BKS: 98A-45971, sơn màu trắng, số khung: RLUA641BAMN068825, số máy: G4LCMU 536661và 02 chiếc chìa khóa xe ô tô;
    • Trả lại Công ty TNHH L3 MI: 01 Xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, sơn màu vàng, BKS: 49A-160.03, số khung: RN2BM4AA6HC 050648, số máy: P250403153 và 01 chiếc chìa khóa xe ô tô;

    (Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/6/2024 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Công an tỉnh H).

  4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Bị hại;
  • Người có QLNVLQ;
  • VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • Người bào chữa;
  • Vụ GĐKT1 - TAND tối cao;
  • VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • CQ CSĐT-Công an tỉnh Hưng Yên;
  • Phòng HSNV-Công an tỉnh Hưng Yên;
  • Trại tạm giam, Công an tỉnh;
  • Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • Lưu HSVA, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự - cướp tài sản

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp xe ô tô
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger