Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Thu Bình.
  2. Bà Nguyễn Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Văn Y, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2001 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Số A P, khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

  2. Lê Văn C, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1971 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Số nhà F thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn L (chết) và bà Lê Thị M (chết); có vợ là Lại Thị H1 và 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

- Bị hại: Bà Trương Thị B, sinh năm 1968

Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Văn CNguyễn Văn Y đều không có giấy phép lái xe theo quy định. Vào sáng ngày 17/9/2023, bà Trương Thị B điện thoại cho bị cáo Lê Văn C đến chợ thôn B, xã P để chở bà B về chợ xã P để mua đồ, bị cáo C đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển số 86B2-489.53 từ nhà đi đến chợ thôn B để chở bà B về chợ xã P thuộc thôn B, xã P, huyện B. Đến khoảng 10 giờ 15 phút, sau khi mua đồ xong bị cáo C điều khiển xe mô tô biển số 86B2-489.53 chở bà B ngồi sau đi từ trong đường nhánh nhỏ bên phải ra đường Q (theo hướng Phan R đi P), rồi điều khiển xe đi ngược chiều trên làn đường dành cho xe mô tô và xe thô sơ bên phần đường phải một đoạn khoảng 60m về hướng thị trấn P, huyện T, khi đến gần đoạn mở dải phân cách, bị cáo C điều khiển xe chuyển hướng từ trái qua phải (theo chiều lưu thông của xe bị cáo C) để qua đoạn mở đi về hướng thị trấn P, huyện T. Cùng lúc này, bị cáo Nguyễn Văn Y điều khiển xe mô tô biển số 86B1-697.60 đang lưu thông theo hướng P - P trên làn đường hỗn hợp dành cho xe ô tô và xe mô tô Quốc lộ A, tốc độ khoảng 60 – 70 km/h (theo lời khai của bị cáo Y) thì phát hiện bị cáo C điều khiển xe mô tô chở bà B đi ngược chiều đang chuyển hướng qua đường cách xe bị cáo Y khoảng 30m, nhưng bị cáo Y không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn mà giữ nguyên tốc độ xe chạy. Khi bị cáo C chuyển hướng xe qua đường theo hướng về thị trấn P, huyện T đến gần sát vạch kẻ phân chia giữa làn đường xe ô tô và làn đường hỗn hợp xe ô tô và xe mô tô thì xe mô tô do bị cáo Y1 điều khiển chạy nhanh không kịp đạp phanh để lách tránh nên đâm vào hông bên trái xe mô tô do bị cáo C điều khiển, làm cho bị cáo C, bà B và bị cáo Y cùng té ngã xuống đường, bất tỉnh. Một lúc sau, bị cáo Y tỉnh dậy rồi điều khiển xe chạy đi về nhà, còn bị cáo C và bà B được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viên Đa khoa khu vực B.

Sau tai nạn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành thành lập hội đồng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện tham gia giao thông và các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.

*Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông hồi 11 giờ 30 phút ngày 17/9/2023 xác định:

Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng QL1A, mặt đường bằng phẳng, trải nhựa rộng 19m00. Giữa tim đường có dải phân cách bằng bê tông phân chia đường thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau, mỗi chiều đường được phân chia thành 03 làn đường, làn đường dành cho xe ô tô rộng 3m50, làn đường dành cho xe ô tô, xe mô tô rộng 3m50, làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ rộng 2m00. Khu vực xảy ra vụ tai nạn giao thông là khu vực điểm mở dải phân cách nằm trong khu vực “Đông dân cư”, phía bên phải (hướng Ninh Thuận đi Đồng Nai) có đường nhánh đi vào Ủy ban nhân dân xã P, có biển báo nguy hiểm “Người đi bộ cắt ngang” và “giao nhau với đường không ưu tiên bên phải”, biển báo hiệu “cấm đường và đỗ xe”.

Chọn hướng Ninh Thuận - Đồng Nai làm hướng khám nghiệm; chọn mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm làm chuẩn; Điểm mốc là biển báo hiệu cột mốc lộ giới 1633 + 800m, được gắn trên dải phân cách ở giữa đường.

+ Đặt vị trí số (1) là xe mô tô biển số 86B2-489.53; Đặt vị trí số (2) là vết máu kích thước 0m60 x 0m80; Đặt vị trí số (3) là vết máu kích thước 1m20 x 0m70; Đặt vị trí số (4) là vết cày kích thước 1m50 x 0m10.

Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại khu vực dải phân cách bê tông, trên chiều đường N đi Đồng Nai.

Từ biển báo mốc lộ giới 1633 + 800m nằm trên dải phân cách giữa tim đường, điểm mốc cố định hiện trường đo về hướng Đồng Nai hơi chếch về hướng lề phải một đoạn 29m30 là tâm trục bánh trước xe mô tô biển số 86B2-489.53, một đoạn 30m50 là tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 86B2-489.53.

(1) Xe mô tô biển số 86B2-489.53: Sau tai nạn nằm trên làn đường dành cho xe ô tô, mặt bên trái xe tiếp xúc với mặt đường đầu xe quay về hướng Ninh Thuận, đuôi xe quay hướng Đồng Nai; tâm trục bánh xe trước cách mép lề phải là 6m80, tâm trục bánh xe sau cách mép lề phải là 6m10, từ tâm trục bánh xe sau đo về hướng Đồng Nai một đoạn 0m60 là tâm vết máu (2).

(2) Vết máu kích thước 0m60 x 0m80, nằm trên làn đường dành cho xe ô tô, tâm vết máu cách mép lề phải là 6m50, từ tâm vết đo về hướng Đồng Nai một đoạn 4m80 là tâm vết máu (3).

(3) Vết máu kích thước 1m20 x 0m70, nằm trên làn đường dành cho xe ô tô, vậy tâm vết máu cách mép lề phải là 6m50, từ tâm vết đo về hướng Đồng Nai hơi chếch và về bên lề phải một đoạn 15m30 là điểm đầu vết cày (4).

(4) Vết cày có kích thước 1m50 x 0m10, nằm trong lề phải, điểm đầu vết cày cách mé lề phải là 1m80, điểm cuối vết cày cách mép lề phải là 2m40.

Ngoài ra, không ghi nhận thêm dấu vết nào có liên quan đến vụ tai nạn giao thông trên.

*Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông: Đối với xe mô tô biển số 86B2-489.53: Mặt gương chiếu hậu bên trái xe bị bể rời khỏi xe, kích thước gọng gương là 14cm; kích thước gương chiếu hậu bên phải (14x9)cm; Gác chân giữa xe bên trái bị cong gập từ trước ra sau; Chân chống giữa xe bị cong gập từ trước ra sau; Chân chống giữa xe bị cong gập từ ngoài vào trong; Ốp bao sân bên trái xe bị móp thủng từ ngoài (03cm so với vị trí cố định ban đầu); Bộ phận giảm sốc bên phải bị cong lệch hướng từ trước ra sau.

Đối với xe mô tô biển số 86B1-697.60: Gương chiếu hậu bên trái bị gãy rời khỏi xe; Ốp mặt nạ phía trước xe bị bể hoàn toàn rời khỏi xe; Bộ phận chắn bùn phía trước bị nứt dài 4cm kèm bám dính tạp chất màu nâu, 01 vết nứt dài 6cm; Bộ phận giảm sốc phía trước bên phải có vết chà, xước kèm bám dính tạp chất màu nâu; Lốp xe trước vành bên trái bị nứt kèm xì hơi; Toàn bộ bộ phận chắn gió bị gãy vỡ rời khỏi bị trí ban đầu; Góc cuối tay ga bên phải xe bị trầy xước bào mòn; Gác chân giữa bên phải bị trầy xước, bào mòn kim loại cao su; Cần đạp phanh bên phải bị cong lệch chiều hướng từ trước ra sau.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 284/KLTTCT-TTGDDYKPYBT ngày 21/3/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận tỉ lệ thương tích của bà Trương Thị B như sau:

  1. Các kết quả chính:

    • Vết thương – chấn thương vùng đầu mặt, dập não đỉnh trái, gãy thành ngoài xương hốc mắt hai bên, gãy cung gò má hai bên, gãy thành xoang hàm hai bên, gãy xương chính mũi, gãy thành xoang sang trái đã được phẫu thuật điều trị, hiện còn hình ảnh tổn thương nhuyễn não vùng đỉnh trái trên phim CT-Scaner sọ mặt; để lại vết thương vùng cung mày mắt phải kích thước: (3 x 0,1)cm, sẹo vết thương vùng cung mày trái kích thước: (4x0,3) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 21% + 5% +5% +8%+ 8%+7%+7%+7% +3% +6% +3%.

    • Chấn thương đùi trái làm gãy kín 1/3 dưới xương đùi trái đã được phẫu thuật điều trị kết hợp xương hiện không ngắn chi, để lại 02 sẹo vết mổ kích thước: vết 1 (24 x 0,6) cm, vết 2: (5 x 0,4)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 21% +3%+2%.

    • Hiện không thấy gãy xoang bướm và mỏm chân bướm trái trên phim CT-Scanner sọ mặt. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

    • Sung nề bàn chân trái hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

  2. Kết luận:

    Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 Bộ Y2 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Trương Thị B tại thời điểm giảm định là: 68% (Sáu tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

    • Kết luận khác: không

    • + Các vết thương, chấn thương do vật tày gây ra.

    • + Vết thương – chấn thương vùng đầu – mặt có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau; Chẩn thương đùi trái có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn YLê Văn C, sau tai nạn thương tích không đáng kể, các bị cáo Y và C đều không yêu cầu giám định thương tích nên không xem xét, giải quyết.

Việc vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành tạm giữ 01 xe mô tô biển số 86B2-489.53 và 01 xe mô tô biển số 86B1-697.60 cùng các giấy tờ xe có liên quan. Sau khi khám nghiệm phương tiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại xe mô tô biển số 86B2-489.53 cùng giấy tờ xe cho chủ sở hữu là bà Lại Thị H1 - vợ bị cáo Lê Văn C (đứng tên chủ sở hữu) và trả lại xe mô tô biển số 86B1-697.60 cho bị cáo Nguyễn Văn Y (là chủ sở hữu phương tiện) theo quy định.

Về phần bồi thường dân sự: Bà Trương Thị B yêu cầu các bị cáo Lê Văn CNguyễn Văn Y bồi thường số tiền 189.985.000 đồng bao gồm các khoản chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động... Sau tai nạn, bị cáo Lê Văn C đã đến gia đình Trương Thị B để thăm hỏi và hỗ trợ bồi thường cho bà B số tiền 45.000.000 đồng. Riêng bị cáo Nguyễn Văn Y đến nay vẫn chưa bồi thường. Bà B tiếp tục yêu cầu các bị cáo Lê Văn CNguyễn Văn Y bồi thường số tiền còn lại theo quy định.

*Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSBB ngày 01/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Văn YLê Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn YLê Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Y mức án 03 năm đến 04 năm tù.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C mức án 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trương Thị B yêu cầu bồi thường tổng số tiền 189.985.000 đồng, bị cáo Lê Văn C đã bồi thường cho bà B số tiền 120.000.000 đồng, tại phiên tòa bà B yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Y bồi thường số tiền 69.985.000 đồng còn lại, bị cáo Nguyễn Văn Y đồng ý bồi thường nên buộc bị cáo Y phải bồi thường cho bà B số tiền 69.985.000 đồng.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Văn Y: Bị cáo thống nhất như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì khác.

- Ý kiến của bị cáo Lê Văn C: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

- Ý kiến của bị hại: Xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Hội đồng xét xử nhận thấy:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 17/9/2023, mặc dù không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng các bị cáo Lê Văn CNguyễn Văn Y vẫn điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường. Khi bị cáo Lê Văn C khiển xe mô tô biển số 86B2-489.53 chở bà Trương Thị B đi ngược chiều trên làn đường dành cho xe mô tô và xe thô sơ bên phần đường phải tại khu vực thôn B, xã P, huyện B về hướng thị trấn P, huyện T, đến gần đoạn mở dải phân cách, bị cáo C điều khiển xe chuyển hướng từ trái qua phải (theo chiều lưu thông của xe bị cáo C) để qua đoạn mở đi về hướng thị trấn P, huyện T thì cùng lúc này, bị cáo Nguyễn Văn Y điều khiển xe mô tô biển số 86B1-697.60 lưu thông theo hướng P - P trên làn đường hỗn hợp dành cho xe ô tô và xe mô tô Quốc lộ A với tốc độ khoảng 70km/h, khi phát hiện bị cáo C điều khiển xe mô tô chở bà B đi ngược chiều đang chuyển hướng qua đường thì bị cáo Y không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn nên đã để xe mô tô biển số 86B1-697.60 đâm vào hông bên trái xe mô tô biển số 86B2-489.53 do bị cáo C điều khiển, làm cho bị cáo C, bà B và bị cáo Y cùng té ngã xuống đường, hậu quả bà Ba bị tổn thương cơ thể 68%.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Văn CNguyễn Văn Y đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Không có giấy phép lái xe theo quy định” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố các bị cáo.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn Y thành khẩn khai báo, nhân thân không có tiền án, tiền sự nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lê Văn C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường tổng số tiền 120.000.000 đồng cho bà B; nhân thân không có tiền án, tiền sự; bị cáo là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của UBND xã P) nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không có.

[5] Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn YLê Văn C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải nghiêm trị, dành cho các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, bị cáo Lê Văn C có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo C dưới khung hình phạt của khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo Nguyễn Văn YLê Văn C đều có lỗi dẫn đến hậu quả bà Ba bị tổn thương cơ thể 68%. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện kể từ khi tai nạn xảy ra, chỉ có bị cáo C thường xuyên thăm hỏi bà B, tích cực vay mượn tiền để có số tiền 120.000.000 đồng bồi thường cho bà B, trong khi bản thân bị cáo C cũng phải điều trị thương tích nặng nề từ vụ tai nạn, bị cáo C là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định, điều đó thể hiện sự thiện chí, tinh thần trách nhiệm của bị cáo C đối với hành vi đã gây ra; tại phiên tòa bà B cũng tha thiết xin cho các bị cáo được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử cũng sẽ xem xét, cân nhắc khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo C và bị cáo Y. Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Trương Thị B yêu cầu bồi thường tổng số tiền 189.985.000 đồng, bị cáo Lê Văn C đã bồi thường cho bà B số tiền 120.000.000 đồng, tại phiên tòa bà B yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Y bồi thường số tiền 69.985.000 đồng còn lại, bị cáo Nguyễn Văn Y đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Y phải bồi thường cho bà B số tiền 69.985.000 đồng.

[7] Về vật chứng: Sau khi khám nghiệm phương tiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại xe mô tô biển số 86B2-489.53 cùng giấy tờ xe cho bà Lại Thị H1 là vợ bị cáo Lê Văn C (đứng tên chủ sở hữu) và trả lại xe mô tô biển số 86B1-697.60 cho bị cáo Nguyễn Văn Y (là chủ sở hữu phương tiện) theo quy định là phù hợp.

[8] Về án phí:

Mỗi bị cáo Nguyễn Văn Y, Lê Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn Y phải chịu 3.499.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn YLê Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Y 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Căn cứ vào: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Căn cứ vào: Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Y phải bồi thường cho bà Trương Thị B số tiền 69.985.000 đồng

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ vào: Điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Văn YLê Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Y phải nộp 3.499.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/7/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận (trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật);
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Công an huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Bị cáo, bị hại,;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.P.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hoàng Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger