Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để

Ông Nguyễn Tấn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn C, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1971 tại K, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp D, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Phạm Văn C1 (đã chết) và bà Võ Thị Đ (đã chết); vợ Nguyễn Ngọc S, con: có 01 người con sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 14/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 23/2017/HSST; Ngày 22/6/2018 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 09 tháng tù của bản án số: 23/2017/HSST ngày 14/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang, buộc chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 09 tháng tù tại Bản án số 13/2018/HS-ST; Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/02/2024, chuyển sang tạm giam ngày 04/3/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Nguyễn Văn H, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp D, xã K, huyện U, Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 28/02/2024, Phạm Văn C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69H1-420.09 đi từ nhà của bị can ở ấp D, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau đến chợ T1, huyện A để mua đồ, mua đồ xong bị can C điều khiển xe về nhà. Đến đoạn đường vừa qua Cúp 13 thuộc ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, thì bị can C định ghé nhà anh Võ Chí T để mua gà xác về ăn, khi tới nhà anh T bị can đậu xe ngoài lộ đal, thấy nhà không đóng cửa, trong nhà không có ai nên bị can vào đường cửa trước đi thẳng ra nhà sau, lúc này bị can C thấy trên bàn trang điểm có một xấp tiền và một điện thoại di động nên nảy sinh ý định lấy trộm tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân, bị can C vừa lấy hết số tiền cầm trên tay định đi ra xe tẩu thoát, thì chị Nguyễn Văn H ở sau nhà đi vào phát hiện truy hô, bị phát hiện bị can C bỏ số tiền vừa trộm được vào nón bảo hiểm đang treo cặp vách ở nhà trước, chị H nắm áo bị can C kéo lại nhưng bị can vùng vẫy thoát ra được, chạy ra xe để tẩu thoát, khi chạy được khoảng 10 mét thì ngã xe nên bị mọi người bắt giữ trình báo Công an xã V. Công an xã kiểm tra số tiền bị can đã lấy trộm của chị H là 5.230.000đ (Năm triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng), đồng thời phát hiện trong nón bảo hiểm của bị can C có cất giấu 09 tờ tiền mệnh giá 500.000đ và trên người bị can có mang theo một số giấy tờ có liên quan, nên Công an xã V tiến hành lập biên bản và tạm giữ phương tiện, tang vật cùng một số giấy tờ của bị can Phạm Văn C.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Phạm Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm số tiền 5.230.000đ của chị H, còn số tiền 4.500.000đ cất giấu trong nón bảo hiểm là tiền của bị can đi làm thuê có được.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ số đồ vật và vật chứng sau: 01 (một) căn cước công dân tên Phạm Văn C; 01 (một) giấy phép lái xe tên Phạm Văn C; 01 (một) thẻ đoàn viên tên Phạm Văn C; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng A; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe tên Nguyễn Ngọc S; 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 69H1-420.09; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh rêu; Tiền Việt Nam đồng 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); Tiền Việt Nam đồng 5.230.000đ (Năm triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng).

Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại Nguyễn Văn H số tiền 5.230.000đ (Năm triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng).

Trả lại cho bị can chính: 01 (một) căn cước công dân tên Phạm Văn C; 01 (một) giấy phép lái xe tên Phạm Văn C; 01 (một) thẻ đoàn viên tên Phạm Văn C; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng A; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe tên Nguyễn Ngọc S; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh rêu.

Đối với vật chứng là: 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 69H1-420.09; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh rêu, đã nhập kho vật chứng. Xét thấy, chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 69H1-420.09 là của vợ bị can C tên Nguyễn Ngọc S, bị can chính dùng làm phương tiện đi lại rồi phát sinh hành vi trộm cắp tài sản, nên không có cơ sở để đề nghị tịch thu, đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh rêu không có liên quan đến vụ án, nên đề nghị trả lại cho bà Nguyễn Ngọc S.

Đối với số tiền Việt Nam 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp vào kho bạc nhà nước. Xét thấy, là tiền của cá nhân bị can Phạm Văn C không có căn cứ để tịch thu, nên đề nghị trả lại cho bị can Phạm Văn C.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 52/CT-VKS-AM ngày 22-5-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Phạm Văn Chính về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Phạm Văn C phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; về trách nhiệm dân sự bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị không xem xét; Về vật chứng đề nghị trả lại.

- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.

- Người liên quan: xin được nhận lại chiếc xe vì là xe con mua cho sử dụng; việc bị cáo lấy xe chạy đi trộm tài sản là không hay biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Thấy họ đã có lời khai, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:

[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 11 giờ ngày 28/02/2024 tại ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Phạm Văn C đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 5.230.000 đồng của chị Phạm Văn H1 thì bị phát hiện.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác; bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng bị cáo vẫn thực hiện để chiếm đoạt tài sản hợp pháp của họ nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 5.230.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Phạm Văn C phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo gây bức xúc trong dư luận và hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. HĐXX xác định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng tuy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân, bị cáo đã 02 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản, tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không sửa chữa sai phạm mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản, tuy đã được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, hiện đang bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U điều tra về tội trộm cắp tài sản trong vụ án khác nên cần phải xử lý bị cáo mức án thật nghiêm khắc là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra và nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự, bị hại chị H1 đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về biện pháp tư pháp: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu AIR BLADE, giấy chứng nhận đăng ký xe và mũ bảo hiểm là tài sản của vợ bị cáo là bà Nguyễn Ngọc S đưa cho bị cáo làm phương tiện đi lại, bà S không biết bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần giao trả lại cho bà S. Đối với số tiền 4.500.000 đồng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo được nhận.

[6]Về án phí, bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn C phạm tội Trộm cắp tài sản.

    Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 28/02/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.
  3. Về biện pháp tư pháp, trả lại cho bà Nguyễn Ngọc S 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE biển kiểm soát 69H1-420.09; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu xanh rêu; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe tên Nguyễn Ngọc S (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số: 24/QĐ-VKS-AM ngày 22/5/2024 của VKSND huyện An Minh).

    Trả lại cho bị cáo Phạm Văn C số tiền 4.500.000 đồng (hiện cơ quan cảnh sát điều tra đang quản lý).

  4. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23-7-2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; bị hại; NLQ;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Khánh Thuận, UM, CM;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn C Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger