|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 22 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Kim Tiến.
Bà Nguyễn Thị Rạt.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1978 tại Nghệ An; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Số H, Đường C, Ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Danh S và bà Trần Thị C; Vợ Đỗ Thị M và có 02 con chung; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 01 năm 2024 đến nay, bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: Số C, đường L, Khu phố A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Viết X, sinh năm 1988, vắng mặt.
- Ông Huỳnh Nhựt M1, sinh năm 1990, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1987, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 11 tháng 01 năm 2024, bị cáo Lê Văn H điều khiển xe môtô biển kiểm soát 54V8- 5404 là xe bị cáo mượn của em ruột tên Lê Thị H1 đi đến khu dân cư T thuộc ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tìm mua chất ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, bị cáo Lê Văn H mua 01 túi nylon rãnh khép viền đỏ, bên trong chứa 17 đoạn ống nhựa hàn kín chứa chất bột màu trắng là chất ma túy loại Heroine của người nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch bán với giá 1.700.000đồng. Sau khi bán ma túy, người thanh niên bán ma túy bỏ đi. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11 tháng 01 tháng 2024, trong lúc bị cáo Lê Văn H đang đứng cầm túi nylon rãnh khép viền đỏ bên trong chứa 17 đoạn ống nhựa hàn kín chứa chất bột màu trắng là chất ma túy loại Heroine trên tay phải, chuẩn bị đi về thì bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tuần tra, kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ quả tang gồm có:
- 01 túi nylon màu trắng, rãnh khép, viền đỏ;
- 17 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, có kích thước 2,5 x 1x 0,6cm, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine;
- 01 xe môtô biển kiểm soát 54V8-5404, Số máy: JC43E5659744; Số khung: RLHJC4321A9189664.
Tại Kết luận giám định số: 28/KL- KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1, Công an tỉnh L kết luận:
“Chất bột màu trắng đựng trong 17 (mười bảy) đoạn ống nhựa kín hai đầu được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 2,3023gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Kèm theo kết luận giám định: Không có.
Bản ảnh giám định gồm 13 ảnh được lưu tại Phòng K1, Công an tỉnh L.
H2 lại đối tượng giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 2,0379gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 28”.
Qua điều tra xác định: 01 xe môtô biển kiểm soát 54V8-5404, Số máy: JC43E5659744; Số khung: RLHJC4321A9189664 là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị H1, sinh năm 1983, nơi cư trú: Số C, đường L, Khu phố A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cho anh ruột là bị cáo Lê Văn H mượn sử dụng vào ngày 11 tháng 01 năm 2024 để đi công việc và không biết việc bị cáo H sử dụng xe đi mua ma túy sử dụng bị bắt giữ.
Tại phiên tòa, bà Lê Thị H1 xác định xe môtô biển kiểm soát 54V8-5404, Số máy: JC43E5659744; Số khung: RLHJC4321A9189664 là tài sản hợp pháp của bà cho bị cáo H mượn sử dụng đi lại vào ngày 11 tháng 01 năm 2024 không biết bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội. Bà xin Hội đồng xét xử xem xét cho bà xin nhận lại xe môtô biển kiểm soát 54V8-5404, Số máy: JC43E5659744; Số khung: RLHJC4321A9189664. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
2/6
Tại bản cáo trạng số: 65/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Lê Văn H gây ra; Đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn H không thu lợi bất chính nên không đề cập xem xét.
Về tang vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
01 túi nilon màu trắng, rãnh khép, viền đỏ. Mẫu vật sau giám định có tổng khối lượng 2,0379gam, được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 28.
Trả lại cho bà Lê Thị H1: 01 xe môtô biển kiểm soát 54V8-5404, Số máy: JC43E5659744; Số khung: RLHJC4321A9189664.
Đối với người thanh niên có hành vi bán chất ma túy cho bị cáo H. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Long An không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo H nên không khởi tố xử lý trong vụ án này là phù hợp. Do đó, không đề cập xem xét.
Đối với bà Lê Thị H1 có hành vi cho bị cáo Lê Văn H mượn xe môtô biển kiểm soát 54V8-5404, Số máy: JC43E5659744; Số khung: RLHJC4321A9189664 để bị cáo H điều khiển đi tìm mua trái phép chất ma túy để sử dụng nhưng xét về ý thức chủ quan thì bà H1 không biết bị cáo H sử dụng xe môtô trên vào mục đích phạm tội nên hành vi của bà H1 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm có liên quan. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Long An không khởi tố tội danh liên quan là phù hợp nên không đề cập xem xét.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử, các quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử sơ thẩm là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2] Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt không lý do nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án: Trước tòa bị cáo Lê Văn H khai nhận: Bị cáo H nghiện chất ma túy từ tháng 12 năm 2023 nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị cáo Lê Văn H có hành vi tàng trữ nhằm mục đích sử dụng 01 túi nylon màu trắng, rãnh khép, viền đỏ bên trong có chứa chất ma túy, có tổng khối lượng 2,3023gam, loại Heroine thì bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn H trước Tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11 tháng 01 năm 2024, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, của những người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định của Phòng K1 - Công an tỉnh L, tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa và phù hợp với nội dung Cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Văn H với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Lê Văn H gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo biết chất ma túy gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội, là tiền đề cho những tội phạm khác, bị cáo biết và pháp luật buộc bị cáo phải biết Nhà nước nghiêm cấm việc tàng trữ chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện hành vi với lỗi cố trực tiếp để thỏa mãn mục đích cá nhân. Hành vi trái pháp luật của bị cáo Lê Văn H cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Lê Văn H nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục - răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân: Bị cáo Lê Văn H có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Lê Văn H là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.
[5] Đối với người thanh niên có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo H. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Long An không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo H nên không khởi tố xử lý trong vụ án này là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[6] Đối với bà Lê Thị H1 có hành vi cho bị cáo Lê Văn H mượn xe môtô biển kiểm soát 54V8-5404, Số máy: JC43E5659744; Số khung: RLHJC4321A9189664 để bị cáo H điều khiển đi tìm mua trái phép chất ma túy để sử dụng nhưng xét về ý thức chủ quan thì bà H1 không biết bị cáo H sử dụng xe môtô trên vào mục đích phạm tội nên hành vi của bà H1 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm có liên quan. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Long An không khởi tố tội danh liên quan là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
[7.1] Bị cáo Lê Văn H không có thu lợi bất chính nên không buộc nộp lại sung vào ngân sách Nhà nước.
[7.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị H1 chỉ xin nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[8] Về tang vật chứng:
[8.1] Đối với 01 túi nilon màu trắng, rãnh khép, viền đỏ. Mẫu vật sau giám định có tổng khối lượng 2,0379gam, được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 28. Xét đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.2] Đối với 01 xe môtô biển kiểm soát 54V8-5404, Số máy: JC43E5659744; Số khung: RLHJC4321A9189664. Xét đây là tài sản hợp pháp của bà H1 cho bị cáo H mượn mà không biết bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bà H1 là phù hợp theo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2024.
Căn cứ khoản 1 và khoàn 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn H 45 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 22 tháng 5 năm 2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn H theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về tang vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon màu trắng, rãnh khép, viền đỏ. Mẫu vật sau giám định có tổng khối lượng 2,0379gam, được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 28.
Trả lại cho bà Lê Thị H1: 01 xe môtô biển kiểm soát 54V8-5404, Số máy: JC43E5659744; Số khung: RLHJC4321A9189664.
Tang vật trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 89-22/04/2024 ngày 22 tháng 4 năm 2024.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án; Buộc bị cáo Lê Văn H nộp 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án này là sơ thẩm bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Hiệp |
6/6
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma tuy
