Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 70/2024/HS - ST

Ngày: 21 - 8 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiểu

Ông Vũ Văn Quảng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo – Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Huệ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/ 2024/TLST – HS, ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST – HS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với, bị cáo: Bùi Duy N - sinh ngày 01/6/1987, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; HKTT: tổ I, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Như H (đã chết) và bà Bùi Thị D; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Có vợ là Phạm Thị Lan H1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Quyết định 64 ngày 17/3/2005 bị Công an huyện T xử phạt tiền về hành vi “Cố ý gây thương tích”, Bản án 318/2009/HSST ngày 08/9/2009 TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.(Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Lê Thanh H2 - sinh năm 1995, địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.(Vắng mặt)
  • - Anh Ngô Văn Đ - sinh năm 1995, địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện T, Thái Bình.(Vắng mặt)
  • - Chị Đoàn Minh Á - sinh năm 2003, địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.(Vắng mặt)
  • - Chị Lê Thị Minh T – sinh năm 1986, địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Bùi Duy N là lao động tự do, thấy nhiều người quen biết có nhu cầu vay tiền nên nảy sinh ý định cho vay có tính lãi suất để thu lợi bất chính. Từ ý định đó, khi người vay có nhu cầu vay tiền sẽ gặp trực tiếp hoặc gọi điện đến số điện thoại cho N để thống nhất hình thức vay tiền và thoả thuận mức lãi suất (3.000₫ – 5000đ)/1 triệu/1 ngày, tương đương mức lãi suất (108% -180%)/1 năm, gấp (5,4 – 9) lần so với mức lãi suất cao nhất (20%) theo quy định của Bộ luật Dân sự. Khi vay người vay không phải viết giấy tờ mà chỉ thoả thuận bằng miệng. Tiền lãi người vay sẽ thanh toán cho N theo tháng, một tháng là 30 ngày không theo lịch vạn niên. Tiền lãi của tháng đầu tiên có người sẽ bị trừ luôn vào tiền gốc vay, có người không, tiền lãi các tháng tiếp theo người vay thanh toán vào đúng ngày vay bằng hình thức gặp trực tiếp để trả tiền mặt hoặc chuyển tiền vào số tài khoản 0971842843, ngân hàng M của Bùi Duy N. Với cách thức này, từ ngày 12/01/2021 đến ngày 01/12/2023, bị cáo Bùi Duy N đã cho 4 người vay tiền cụ thể như sau:

  • * Anh Lê Thanh H2 vay tiền 04 lần:
    • Lần 1: Ngày 12/01/2021 vay 10.000.000₫ với lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày tương đương 1.500.000đ/1 tháng đến ngày 12/03/2021 anh H2 đã trả cho bị cáo nợ gốc và 3.000.000đ nợ lãi. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 333.333đ, lãi thu lợi bất chính là 2.666.667 đ.
    • Lần 2: ngày 21/9/2021 vay 23.000.000đ trong đó 3 triệu đồng không tính lãi, còn lại 20 triệu đồng tính lãi suất 5.000đ/1 triệu/ 1 ngày tương đương 3 triệu đồng/1 tháng đến ngày 21/3/2022 anh H2 đã trả cho bị cáo nợ gốc và 18 triệu đồng nợ lãi. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 2.000.000đ, lãi thu lợi bất chính là 16.000.000₫.
    • Lần 3: Ngày 28/3/2022 vay 20.000.000đ với lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày tương đương 3.000.000đ/1 tháng đến ngày 26/5/2022 anh H2 đã trả cho bị cáo nợ gốc và 5.800.000đ nợ lãi theo thoả thuận (số lãi N đã thu là 6.000.000đ). Số tiền lãi theo quy định của pháp luật: 644.444đ, lãi thu lợi bất chính: 5.155.556đ.
    • Lần 4: Ngày 06/6/2022 vay 15.000.000đ với lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày tương đương 2.250.000đ/1 tháng đến ngày 06/9/2022 anh H2 đã trả cho bị cáo nợ gốc và 6.750.000đ nợ lãi. Số tiền lãi theo quy định của pháp luật: 750.000đ, lãi thu lợi bất chính 6.000.000đ.
  • * Chị Lê Thị Minh T vay tiền 02 lần:
    • Lần 1: Ngày 25/11/2021 vay 5.000.000đ, với lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày tương đương 750.000đồng/tháng đến ngày 11/01/2023 chị T đã trả cho bị cáo nợ gốc và lãi theo thoả thuận là 10.150.000đ (lãi đã thu 10.500.000₫). Số tiền lãi theo quy định pháp luật 1.127.778 đồng, lãi thu lợi bất chính 9.022.222đ.
    • Lần 2: Ngày 01/6/2023 vay 5.000.000đ, với lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày tương đương 750.000đồng/tháng đến ngày 01/12/2023 đã trả cho bị cáo nợ gốc và lãi 4.500.000đ, lãi theo pháp luật: 500.000đ, lãi thu lợi bất chính: 4.000.000đ.
  • * Chị Đoàn Minh Á vay tiền 01 lần: Ngày 16/10/2022 vay 20 triệu đồng với lãi suất 3.000đồng/1 triệu/1 ngày tương đương 1.800.000đồng/1 tháng, đến ngày 16/11/2023, chị Á đã thanh toán nợ gốc và 23.400.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi theo quy định pháp luật là 4.333.333 đồng, lãi thu lợi bất chính là 19.066.667 đồng.
  • * Anh Ngô Văn Đ vay tiền 01 lần: Ngày 01/12/2022 vay 5 triệu đồng với lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày tương đương 750.000đ/1 tháng, đến ngày 01/3 /2023 anh Đ đã thanh toán nợ gốc và 2.250.000đ tiền lãi, trong đó lãi theo quy định pháp luật là 250.000đ, lãi thu lợi bất chính 2.000.000đ.

Bản cáo trạng số: 70/CT - VKSTH ngày 12/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố: Bị cáo Bùi Duy N về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Duy N phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; Điều 35; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Bùi Duy N từ 60 triệu đồng đến 80 triệu đồng.

Ngoài ra còn đề nghị về các vấn đề khác trong vụ án, các biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo đối với bị cáo, người liên quan.

* Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, không có tranh luận gì tại phiên toà và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo, người liên quan không có khiếu nại, kiến nghị gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra, cáo trạng truy tố. Bị cáo khai: Từ ngày 12/01/ 2021 đến ngày 01/12/2023, bị cáo Bùi Duy N đã cho: anh Lê Thanh H2, anh Ngô Văn Đ, chị Lê Thị Minh T, chị Đoàn Minh Á vay tổng số tiền 100.000.000đ với mức lãi suất lãi suất (3.000đồng – 5.000đồng)/1 triệu/1 ngày, tương đương mức lãi suất (108% -180%)/1 năm, gấp (5,4 – 9) lần so với mức lãi suất cao nhất (20%) theo quy định của Bộ luật Dân sự. Với số tiền lãi suất thu lợi bất chính là 63.911.112 đồng, số tiền lãi thực tế theo quy định Bộ luật dân sự là 9.938.888 đồng.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, là chứng cứ buộc tội và hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Đơn tố cáo; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 25/4/ 2024 của Công an huyện T; Biên bản làm việc về nội dung kiểm tra điện thoại do Công an huyện T; Bản sao kê tài khoản Ngân hàng TMCP Q mang tên Bùi Duy N; Lời khai của những người liên quan: chị Lê Thị Minh T, chị Đoàn Minh Á, anh Lê Thanh H2, anh Ngô Văn Đ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4]. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, ảnh hưởng đến đường lối chính sách của nhà nước về lĩnh vực tài chính ngân hàng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết được việc cho vay lãi nặng để thu lợi bất chính trong giao dịch dân sự bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì kiếm lợi mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

[5]. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Bùi Duy N đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[6]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu.

[7]. Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặt khác hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật kinh tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng về lãi suất. Do đó HĐXX áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo. Do áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo vì vậy không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo.

[8]. Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự được xử lý như sau,

  • [8.1] Đối với số tiền nợ 100.000.000đ bị cáo dùng để cho vay đây là phương tiện phạm tội cũng như số tiền lãi theo quy định của pháp luật 9.938.888 đồng là số tiền thu lời bất chính. Vì vậy cần buộc bị cáo nộp lại các số tiền này để sung Ngân sách nhà nước.
  • [8.2] Đối với số tiền lãi vượt quá mức quy định của pháp luật dân sự bị cáo đã thu của các anh, chị: Lê Thị Minh T, Đoàn Minh Á, Ngô Văn Đ, Lê Thanh H2. Do bị cáo và những người này đã tự nguyện thoả thuận trả lại cho nhau xong nên không đặt ra xem xét.
  • [8.3]. Đối với chiếc điện thoại bị cáo dùng để liên lạc và chuyển khoản số tiền vay, nhận lãi của người vay trả. Bị cáo đã làm mất, quá trình điều tra không thu giữ được vì vậy không đặt ra xem xét.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Duy N phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".
  2. Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; Điều 35; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bùi Duy N 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Bùi Duy N phải nộp lại số tiền 109.938.888 (Một trăm linh chín triệu chín trăm ba mươi tám nghìn tám trăm tám mươi tám) đồng sung Ngân sách Nhà nước.
  4. Về án phí: áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Duy N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

*Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - THA Dân sự, CA huyện Tiền Hải;
  • - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS - ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 70/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi D Nh phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger