Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 70/2025/HSST

Ngày: 20/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trang
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
  • Ông Đinh Quang Tuyến
  • Bà Nguyễn Thị Thu Ba
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2025/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/01/1987 tại M, Cà Mau; Nơi ĐKTT: Ấp L, xã H, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khu phố B A, đặc khu P, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 và bà Trần Thị L, sinh năm 1959; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 11/6/2019 bị TAND huyện Phú Quốc (nay là TAND khu vực 2 - An Giang) xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Ngày 25/01/2025 chấp hành xong án phạt tù, chưa xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/6/2025 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần ma tuý để sử dụng nên khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 10/6/2025, Nguyễn Văn Đ sử dụng điện thoại di động gọi cho một người đàn ông tên Q (chưa rõ nhân thân) và thuê xe ôm của một người đàn ông (không rõ nhân thân) chạy đến khu vực Bãi Đ thuộc khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố F, đặc khu P, tỉnh An Giang) mua của Q 01 bịch ma túy với giá 1.000.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ, ngày 11/06/2025, Đ đến khách sạn N thuộc tổ G, khu phố D, phường A, thành phố P thuê phòng 104 và lấy một phần ma tuý ra sử dụng, phần ma tuý còn lại Đ giấu trong ống nẹp luồn dây điện để trên đầu giường để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, Tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng A phối hợp với Công an phường A tiến hành kiểm tra hành chính phòng số 104 khách san N phát hiện Đ đang tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản phạm tội quả tang. Ngày 15/6/2025, Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng A khởi tố vụ án. Ngày 17/6/2025, Nguyễn Văn Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K (nay là Công an tỉnh A) khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài, viền màu đỏ, kích thước khoảng 2,3 cm x 3,7 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng không đồng nhất (đã niêm phong).
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu S, chủng loại Galaxy A03, màu xanh dương. Imei: 350538282218788, Imei 2: 359923672218781, đã qua sử dụng, bị vỡ chính giữa màn hình.

* Tại bản kết luận giám định số: 645/KL-KTHS, ngày 13/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh K, kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa bên trong 01 bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3751 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ - CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSKV2 ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu S đã qua sử dụng.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K (nay là Công an tỉnh A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 11/6/2025, tại khách sạn N thuộc khu phố D A, đặc khu P, tỉnh An Giang, tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng A bắt quả tang Nguyễn Văn Đ đang tàng trữ trái phép 0,3751 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi tàng trữ phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy nhưng vì vụ lợi của bản thân bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên có tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được xem xét khi Hội đồng xét xử quyết định hình phạt.

[5]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang về tội danh, mức hình phạt, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

[6]. Về các vấn đề khác:

Về biện pháp tư pháp: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với điện thoại di động của bị cáo do không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người tên Q chưa rõ nhân thân, có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị can Nguyễn Văn Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với người đàn ông chưa rõ nhân thân, chạy xe ôm chở Nguyễn Văn Đ không biết Đ mua ma tuý nên không xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 11/6/2025.
  3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định định được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu vụ số 693/2025. Bên trong phong bì bao gồm các bịch nylon đựng mẫu và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,3295 gam.
    • - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu S, chủng loại Galaxy A03, màu xanh dương. Imei: 350538282218788, Imei 2: 359923672218781, đã qua sử dụng, bị vỡ chính giữa màn hình, đã qua sử dụng.

    (Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 38/QĐ-VKSKV2 ngày 15/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 2 - An Giang;
  • - CQTHAHS khu vực 2 - An Giang;
  • - THA khu vực 2 - An Giang;
  • - CQCSĐT - CA đặc khu Phú Quốc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HSST ngày 20/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 70/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger