|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 70/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25/6/2025
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Hiệp.
Bà Nguyễn Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên toà: Bà Phan Ngọc Điểm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 79/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Kim Thị T; Sinh năm 1990; Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Thạch Hoàng A; Sinh năm 1994; Nơi cư trú: Ấp R, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 14/4/2025 của nguyên đơn Kim Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Kim Thị T và ông Thạch Hoàng A quen biết nhau và tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới. Đến sau này mới đến Ủy ban nhân dân xã T đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn số 75, cấp ngày 24-4-2019. Sau khi kết hôn thì ông bà sống chúng tại nhà cha mẹ ruột của ông Thạch Hoàng A và vẫn sống rất hạnh phúc.
Đến cuối năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Thạch Hoàng A không quan tâm, chăm sóc vợ con, ăn chơi cùng bạn bè, ghen tuông vô cớ, thường xuyên chửi bới bà Kim Thị T, xúc phạm danh dự và đánh đập bà Kim Thị T. Bà Kim Thị T vì thương con nên mới chịu đựng hơn một năm nhưng ông Thạch Hoàng A vẫn không thay đổi nên hai người đã không còn sống chung như vợ chồng từ năm 2021 đến nay. Nhận thấy vợ chồng đã không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có một con chung tên Thạch Thị Ngọc Y (sinh ngày 26-10-2017). Hiện nay đang sống cùng ông Thạch Hoàng A.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Nay bà Kim Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Thạch Hoàng A .
- - Về con chung: Bà Kim Thị T đồng ý giao con chung là cháu Thạch Thị Ngọc Y (sinh ngày 26-10-2017) cho ông Thạch Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng, bà Kim Thị T không cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết..
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Thạch Hoàng A đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu được ly hôn ông Thạch Hoàng A. Về con chung: Giao con chung tên Thạch Thị Ngọc Y (sinh ngày 26-10-2017) cho ông Thạch Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng, bà Kim Thị T không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ theo đúng trình tự tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.
- Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được ly hôn với ông Thạch Hoàng A, thấy rằng: Bà Kim Thị T với ông Thạch Hoàng A là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T theo giấy chứng nhận kết hôn số 75, cấp ngày 24-4-2019 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm và hiện nay hai người không còn sống chung như vợ chồng. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập bị đơn đến làm việc và hòa giải nhưng bị đơn không đến, chứng tỏ bị đơn không thiện chí muốn hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng để quay về đoàn tụ. Xét thấy, những mâu thuẫn trên thể hiện được tình trạng hôn nhân của bà Kim Thị T với ông Thạch Hoàng A đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được; hiện nay ông bà không còn sống chung với nhau như vợ chồng, thể hiện được cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, ông bà không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Kim Thị T.
- Về con chung: Nhận thấy con chung là cháu Thạch Thị Ngọc Y (sinh ngày 26-10-2017) đang sống chung với ông Thạch Hoàng A và cháu nguyện vọng được ở với cha đồng thời bà Kim Thị T đồng ý giao con chung cho ông Thạch Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng, do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục giao con chung tên Thạch Thị Ngọc Y (sinh ngày 26-10-2017) cho ông Thạch Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Bà Kim Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không có yêu cầu. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Kim Thị T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Kim Thị T được ly hôn với ông Thạch Hoàng A.
- Về con chung: Giao con chung tên Thạch Thị Ngọc Y (sinh ngày 26-10-2017) cho ông Thạch Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, bà Kim Thị T không cấp dưỡng nuôi con. Bà Kim Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Kim Thị T phải chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001670 ngày 14/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, bà Kim Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Thị Kiều Oanh |
Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 70/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HN Thạch Thị T - Kim Hoàng A
