|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2025/DS-PT Ngày: 26/05/2025. “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và chia tài sản sau ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng.
- Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng Huy và ông Trần Hữu Hiệu.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 và 26 tháng 05 năm 2025, tại Trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 69/2024/TLPT-DS ngày 02/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và chia tài sản sau ly hôn”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 05 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 140/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 12 năm 2024; Các Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định ngừng phiên tòa, Thông báo tiếp tục mở phiên tòa, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958. Trú tại số A L, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1979 và chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1978. Đều trú tại số A L, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1957. Nơi cư trú cuối cùng: Khu A, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- - Ông Lê Văn T2, sinh năm 1958.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn T2: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958.
- Đều trú tại số A L, khu A, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ, ông Lê Văn T2: Ông Dương Đức T3 - Luật sư thuộc Trung tâm tư vấn pháp luật Hội Luật gia tỉnh H. Địa chỉ số F Hồ T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- - Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970. Nơi đăng ký thường trú tại khu E phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Trú tại số A L, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- - Anh Lê Văn H, sinh năm 1998 và anh Lê Văn H1, sinh năm 1997. Địa chỉ: A L, khu A, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Đ.
- Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà Nguyễn Thị Đ là vợ của ông Lê Văn T2, mẹ kế của anh Lê Văn T. Trước đây, ông T2 được bác ruột là cụ Lê Thị N1 tặng cho 01 diện tích đất ao tại khu A phường N, thành phố H vào thời gian nào bà không biết. Khi ông T2 và bà Vũ Thị T1 (mẹ đẻ của anh T) còn trong thời kỳ hôn nhân đã san lấp một phần đất ao để xây nhà sinh sống trên đó. Sau khi ông T2 ly hôn với bà T1, bà Đ kết hôn với ông T2 vào ngày 19/10/1996. Vợ chồng bà tiếp tục san lấp phần diện tích ao còn lại. Vào khoảng năm 2000, ông T2 đã chia cho hai người con trai của ông T2 và bà T1 là anh T, anh Lê Văn C một nửa thửa đất, vợ chồng bà sử dụng một nửa phần đất còn lại. Anh em T, C tự thỏa thuận với nhau để vợ chồng anh T quản lý, sử dụng phần đất và căn nhà trên đất nay là thửa đất số 258 địa chỉ tại số A L, phường N, thành phố H (gọi tắt là thửa đất số 258). Từ suy nghĩ đất cát đã được nội bộ gia đình phân chia rõ ràng nên bà và ông T2 mới mua một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 258 của vợ chồng anh T và chị Nguyễn Thị N cho con trai ông bà là anh Lê Văn H. Ngày 07/01/2008, hai bên thống nhất thiết lập giao dịch chuyển nhượng đất được thể hiện tại “Giấy chuyển nhượng đất ở” với nội dung: “Anh Tuấn có mảnh đất tổng diện tích 147m² nhượng lại cho em là Lê Văn H 40m² phía sau, mặt Bắc giáp đường xóm, mặt Tây giáp đất điện, mặt Nam giáp ông T2, mặt Đông giáp anh T; tổng số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu chẵn), hết năm 2009 anh T phải trả lại mặt bằng” có sự chứng kiến của ông Lê Văn V, bà Lê Thị T4, xác nhận của ông Lê Xuân T5 (khi đó là trưởng khu A phường N). Tại thời điểm giao dịch, hai bên đã giao nhận đủ số tiền chuyển nhượng, không tiến hành đo đạc thực tế. Bà Đ xác định nguồn tiền mua đất này là tài sản chung của vợ chồng. Sau đó, vợ chồng bà đã nhận quản lý và sử dụng khoảng 30m² đất là khu vực chuồng lợn, còn khoảng 10m² đất nằm trong phần nhà mà vợ chồng anh T đang quản lý sử dụng.
Do năm 2009, anh H chưa đủ tuổi để đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: GCNQSDĐ) nên vợ chồng bà chưa yêu cầu vợ chồng anh T phải trả đủ diện tích mặt bằng đất vẫn để cho họ tiếp tục sử dụng đất.
Đến năm 2017 anh Lê Văn H đủ tuổi thành niên, bà nhiều lần thúc giục nhưng vợ chồng anh T không thực hiện. Anh T6 đưa ra lý do ông T2 đã bán lại phần đất này cho vợ chồng anh theo “Giấy chuyển nhượng đất” ngày 04/12/2010 với giá 100.000.000đ. Tuy nhiên, bà không biết việc ông T2 bán lại phần đất cho vợ chồng anh T6, không nhận hay sử dụng số tiền 100.000.000₫ từ vợ chồng anh T6 vào chi tiêu chung gia đình. Đây là việc riêng giữa ông T2 và vợ chồng anh T6, không liên quan đến việc chuyển nhượng đất ngày 07/01/2008.
Năm 2018, nội bộ gia đình không tự giải quyết được nên bà làm đơn đề nghị UBND phường N giải quyết cho bà đòi lại 40m² đất đã mua của vợ chồng anh T6. Qua nhiều lần địa phương hòa giải, bà đã rút đơn về để hai bên tiến hành làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với hai thửa đất hiện hai bên đang quản lý, sử dụng mục đích để sau khi được cấp GCNQSDĐ anh T6 sẽ tách đất trả bà 40m² đất. Khi đó, hai bên chỉ mốc giới và ký xác nhận không có tranh chấp mốc giới, được UBND thành phố H cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng bà và vợ chồng anh T6 vào năm 2020. Song, vợ chồng anh Tuấn N2 vẫn không làm thủ tục tách trả lại 40m² đất cho vợ chồng bà nên bà khởi kiện đến Tòa án.
Quá trình giải quyết, bà Đ xác định sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng bà đã quản lý, xây dựng 4,0m² gian bếp (đựng đồ dùng) và 21,5m² lán tôn (để chăn nuôi), tổng là 25,5m² trong 40m² đất mua của vợ chồng anh T6.
Về yêu cầu khởi kiện: Bà Đ yêu cầu Tòa án buộc anh T6, chị N2 bàn giao trả lại cho bà và ông Lê Văn T2 quyền sử dụng 40m² đất thuộc một phần thửa đất số 258, tờ bản đồ số 50, địa chỉ tại số A L, phường N, thành phố H theo Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008 và công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng đất này.
Về công sức tôn tạo, san lấp ao: Bà Đ không còn nhớ đã san lấp diện tích ao bao nhiêu, không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho công sức, tiền của đã bỏ ra đồng thời trong vụ án này, hai bên chỉ tranh chấp trong phần diện tích 40m² đất nên bà tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết phần công sức san lấp, tôn tạo ao.
Về yêu cầu phản tố của bị đơn: Bà Đ không đồng ý với yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất ngày 07/01/2008 vô hiệu, đồng ý tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất ngày 04/12/2010 vô hiệu bởi việc chuyển nhượng này không có sự tham gia, đồng ý của bà mà ông Trọng T7 bán cho vợ chồng anh T6, chị N2 là vi phạm pháp luật. Bà đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu độc lập của ông Lê Văn T2: Bà xác định không liên quan đến căn nhà cấp 4 của ông T2 và bà Vũ Thị T1. Ông T2 cho ai và định đoạt như thế nào là quyền của ông T2. Bà Đ không có công sức đóng góp hay bỏ ra khoản tiền nào để tu sửa công trình nhà là tài sản chung của ông T2 với bà T1. Do đó, về phần tài sản chung của ông T2, bà T1, bà không có yêu cầu giải quyết nào khác.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bị đơn anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N trình bày:
Anh T6 trình bày: Anh nhất trí với phần trình bày của nguyên đơn về quan hệ gia đình, nguồn gốc thửa đất. Tuy nhiên, anh xác định diện tích ao cụ Lê Thị N1 cho ông T2 và bà T1 là tài sản chung của bố mẹ anh. Sau đó, ông T2 và bà T1 san lấp gần hết ao đến năm 1989 đã xây nhà trên thửa đất. Năm 2000, ông T2 chia đất cho các con trai. Anh T6 được ông Trọng T8 cho 56m² đất, em trai Lê Văn C được cho 59,5m² đất và bán lại cho anh Tó diện tích đất này nhưng anh em viết giấy tặng cho nhau vào năm 2004. Hiện căn nhà do anh và vợ là chị Nguyễn Thị N quản lý, sử dụng. Anh xác định có quyền sử dụng diện tích đất là 115,5m² đất và trên đất có căn nhà của bố mẹ anh.
Quá trình thiết lập, thực hiện và thỏa thuận liên quan đến giao dịch mua bán 40m² đất theo Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008, anh T6 thừa nhận ông T2, bà Đ đã mua của vợ chồng anh 40m² đất trong tổng diện tích 147m² tại địa chỉ A L, vị trí đất nằm ở phía sau căn nhà với giá 50.000.000đ, mục đích mua cho con trai là anh Lê Văn H. Nội dung giấy chuyển nhượng do ông T2 viết nhưng tại thời điểm thiết lập giấy này và việc giao nhận tiền giữa hai bên không có người làm chứng. Anh không biết lý do trong Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008 có chữ ký của ông Lê Văn V1, bà Lê Thị T4, ông Lê Xuân T5.
Đến năm 2010, ông T2 và bà Đ không có nhu cầu sử dụng diện tích 40m² đất nêu trên nên ông Trọng đại D viết giấy chuyển nhượng lại cho vợ chồng anh T6 với số tiền chuyển nhượng là 100.000.000đ. Bị đơn xác định đã giao đủ số tiền này cho ông T2 tại nhà chị Nguyễn Thị Xuân S, có xác nhận của ông Hoàng Thế C1 là trưởng khu dân cư. Mặc dù bà Đ không ký tên trong giấy chuyển nhượng đất nhưng biết rất rõ sự việc, không có ý kiến gì. Bị đơn xác định Giấy chuyển nhượng ngày 04/12/2010 là chữ viết của ông T2. Do ông T2 và bà Đ có mâu thuẫn trong cuộc sống nên năm 2018, bà Đ làm đơn đề nghị UBND phường N giải quyết buộc vợ chồng anh phải bàn giao 40m² đất cho bà Đ. Sau khi UBND phường N hòa giải nhiều lần bà Đ đã tự nguyện rút đơn về, hai hộ gia đình đã tiến hành đề nghị cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Ông T2, bà Đ là người trực tiếp chỉ mốc giới giữa hai thửa đất, ký giáp ranh và xác nhận không có tranh chấp. Quá trình sử dụng, quản lý đất và nhà nêu trên, anh T6 và chị N có trát lại toàn bộ nhà và làm lán lợp prô-xi-măng trước cửa để sinh sống tại đây. Sau này, khi đo đạc để được cấp GCNQSDĐ thửa đất mà vợ chồng anh T6 quản lý có sự biến động về diện tích tăng lên thành 144,8m². Vợ chồng anh T6 phải nộp tiền theo quy định đối với phần diện tích tăng lên. Hiện nay tài sản trên đất, ranh giới, mốc giới không có thay đổi. Sau khi hai bên được nhận GCNQSDĐ đều không có ý kiến khiếu nại gì.
Năm 2019, vợ chồng anh T6 cho gia đình bà Nguyễn Thị L thuê nhà ở số A L, phường N, thành phố H nhưng không làm thay đổi hiện trạng nhà đất.
Ngày 28/8/2023, Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn đề nghị tuyên bố Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008, Giấy chuyển nhượng đất 04/12/2010 là vô hiệu, đồng thời giải quyết hậu quả pháp lý của các hợp đồng vô hiệu hai bên trả lại cho nhau những gì đã giao và nhận.
Về công sức tôn tạo, san lấp ao: Anh Tuấn xác định thời điểm được ông Trọng T8 cho đất đã san lấp toàn bộ và sử dụng làm đất ở. Anh T6 và chị N đều không có công sức tôn tạo, san lấp ao.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Anh không đồng ý trả lại cho vợ chồng ông T2, bà Đ 40m² đất theo thỏa thuận tại Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008 bởi vào ngày 04/12/2010 ông T2 đã bán lại diện tích đất này cho vợ chồng anh và bà Đ cũng biết việc đó. Mặt khác diện tích đất hai bên giao dịch là tài sản chung của ông T2 và bà T1 có trong thời kỳ hôn nhân và chưa được giải quyết. Do đó, các giao dịch liên quan đến phần diện tích 40m² đất nêu trên đều vô hiệu. Bị đơn có thay đổi đề nghị Tòa án không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Về yêu cầu độc lập: Anh Tuấn xác định sau khi tiếp quản nhà đất do ông Lê Văn T2 tặng cho, anh và chị N có sửa chữa, trát lại toàn bộ nhà, ốp lát lại nền, làm cửa mới,...Tuy nhiên, do thời gian đã lâu nên vợ chồng anh không còn giữ lại tài liệu liên quan đến việc sửa chữa cũng như không nhớ được đã thuê ai đến làm. Anh áng tính chi phí, công sức cho việc sửa chữa vào căn nhà là tài sản chung của ông T2 và bà T1 hiện nay có giá trị bằng 1/2 giá trị của Hội đồng định giá theo Biên bản định giá tài sản ngày 13/12/2022. Ông T2 xác định cho anh 1/2 giá trị của tài sản chung giữa ông T2 và bà T1, anh T6 nhất trí không thắc mắc gì.
Chị N trình bày: Chị thống nhất toàn bộ với quan điểm trình bày của anh T6.
Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Lê Văn T2 trình bày: Ông và bà Vũ Thị T1 kết hôn vào năm 1976 có ba con chung là anh Lê Văn T, chị Lê Thị N3 và anh Lê Văn C. Sau đó, gia đình vào làm ăn ở Gia Lai, Kon Tum được một thời gian thì trở về Bắc. Ông không nhớ vào thời gian nào, ông được bác ruột là cụ Lê Thị N1 cho một cái ao để làm nhà ở và thờ cúng tổ tiên, diện tích khoảng 200m². Ông và bà T1 đã đổ đất san lấp một phần diện tích ao khoảng 50m² để xây 01 ngôi nhà mái bằng hai gian và sinh sống cùng các con ở đây. Khoảng năm 1993-1994, bà T1 bỏ đi. Tòa án nhân dân thị xã Hải Dương đã giải quyết ly hôn cho ông và bà T1 theo Bản án dân sự số 04 ngày 29/4/1996, còn về tài sản “Tạm giao ngôi nhà 02 gian mái bằng, xây dựng trên diện tích đất 50m² tại thôn N, xã N, thị xã H (nay là khu A, phường N, thành phố H) cho ông quản lý cho đến khi bà T1 có mặt tại địa phương nếu có yêu cầu giải quyết thành vụ kiện khác”. Ông xác định phần diện tích ao mà cụ N1 cho ông là tài sản riêng của ông, chỉ có ngôi nhà 02 gian trên đất là tài sản chung của ông và bà T1. Tháng 10/1996, ông kết hôn với bà Đ, sinh sống ở thửa đất trên tiếp tục san lấp phần ao còn lại trong khoảng 03 đến 04 năm. Vào năm nào ông không nhớ, ông có làm đơn tách 50m² đất cho anh T, giáp đường xóm trên đất có ngôi nhà của ông và bà T1 hiện do vợ chồng anh T quản lý, sử dụng; còn phần đất bên cạnh ông và bà Đ xây nhà ở như hiện nay. Năm 2008, ông và bà Đ thống nhất mua 40m² đất nằm ở phía cuối thửa đất của anh T, chị N mục đích để sau này cho con trai là Lê Văn H. Việc mua bán như bà Đ trình bày là đúng. Vợ chồng ông T2 đã và đang sử dụng phần lán tôn và bếp, tổng diện tích 25,5m². Vào năm nào ông không nhớ rõ, ông có vay của anh T 50.000.000đ lấy làm 02 lần, một lần 40.000.000đ, một lần 10.000.000₫ để chơi lô đề, cờ bạc cá nhân, bà Đ không biết việc này. Sau đó, vào ngày 04/12/2010 ông chuyển nhượng lại 40m² đất cho anh T trị giá 50.000.000đ để trừ vào số tiền ông vay của anh T. Ông là người viết Giấy chuyển nhượng đất ngày 04/12/2010 mà anh T cung cấp cho Tòa án, thể hiện nội dung: “.. tôi có mảnh đất 40m² phía sau nhà anh T là con trai tôi, nay tôi nhượng lại cho anh T là con trai tôi. Số tiền là: (100.000.000) (tức một trăm triệu chẵn)...”, nhưng không có ai làm chứng, không có ai xác nhận vào văn bản đó. Tuy nhiên, số tiền 100.000.000đ bằng số và bằng chữ không phải là chữ viết của ông. Sau khi bà Đ biết sự việc đã đến nói chuyện với vợ chồng anh T để trả thay cho ông 50.000.000đ và đề nghị vợ chồng anh T trả lại 40m² đất đã bán cho ông bà nhưng vợ chồng anh T tránh mặt.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông T2 nhất trí với phần trình bày cũng như yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
Về yêu cầu phản tố của bị đơn: Ông nhất trí với yêu cầu tuyên bố Giấy chuyển nhượng đất ngày 04/12/2010 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định pháp luật. Bởi giao dịch chuyển nhượng lại giữa ông với vợ chồng anh T, chị N không có bà Đ tham gia và ông là người đã cầm số tiền 100.000.000 đồng do anh T, chị N bàn giao trong giao dịch chuyển nhượng đất để chi tiêu cá nhân. Ông không đồng ý tuyên bố giao dịch theo Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008 vô hiệu. Bởi tài sản chung giữa ông và bà T1 chỉ có 01 căn nhà cấp 4, quyền sử dụng đất là ông được cụ N1 tặng cho riêng. Đồng thời, ông đã phân chia, định đoạt phần đất của ông cho các con ai cũng có phần của mình không thiên vị cho ai, không dùng riêng cho bản thân ông. Khi ông định đoạt phân chia đất và nhà trong gia đình các con cái không ai có ý kiến phản đối gì.
Về yêu cầu độc lập: Trong thời kỳ hôn nhân giữa ông và bà T1 có tạo dựng được 01 căn nhà cấp 4, 01 cầu thang ngoài và tường bao quanh. Tuy nhiên phần tường bao đã xuống cấp, không còn giá trị nên không yêu cầu giải quyết. Khi anh T cưới chị N về vợ chồng có sửa chữa, làm lán tôn phía trước nhà, có ốp nhựa giá trị khoảng vài triệu đồng. Nay ông xác định đã cho tặng cho anh T 1/2 căn nhà này, còn lại 1/2 căn nhà thuộc phần quyền lợi của bà T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Phần quyền lợi của ông đối với tài sản chung giữa ông và bà T1, ông đã tặng cho anh T nên không còn yêu cầu nào khác. Ông xác định không còn quyền lợi nào đối với tài sản chung giữa ông và bà T1.
Bà Nguyễn Thị L trình bày: Năm 2019, gia đình bà thuê nhà số A L, phường N, thành phố H của anh T để ở. Quá trình thuê, gia đình bà không sửa chữa gì, nhà đất giữ nguyên hiện trạng. Bà không liên quan đến tranh chấp của hai bên, việc thuê nhà do bà và vợ chồng anh T giải quyết. Bà đề nghị giải quyết vắng mặt trong các buổi làm việc liên quan đến vụ án.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị T1: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập (niêm yết) hợp lệ các văn bản tố tụng, đăng tin trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của ông Lê Văn T2.
Những người làm chứng trình bày:
Bà Lê Thị T4 trình bày: Bà là con gái của cụ Lê Thị N1. Vào những năm 1978, ông T2 cùng gia đình đi khai hoang lập nghiệp ở Gia Lai, Kon Tum. Sau đó, quay về quê hương sinh sống nhưng các cụ đã bán hết ruộng vườn, ông T2 không có nhà đất để ở. Bà đã chủ động bàn với cụ N1 cho ông T2 đất để thờ phụng và hương khói cho gia tiên sau này, cụ N1 đồng ý. Bà đã liên hệ với địa chính xã khi đó chuyển quyền sử dụng đất ao cho ông T2. Bà T4 không nhớ thời điểm cụ N1 tặng diện tích ao cho ông T2. Bà xác định cụ N1 chết vào ngày 14/8/1987 (âm lịch) và gia đình không thực hiện việc khai tử tại chính quyền địa phương. Sau đó, vợ chồng ông T2, bà T1 sinh sống trên thửa đất đó. Ông T2 đã phân chia đất cho các con trai, cụ thể như thế nào bà không biết. Tuy nhiên vào năm 2008, vợ chồng ông T2, bà Đ mua lại 40m² đất của anh T, chị N và mời bà đến chứng kiến việc viết giấy tờ chuyển nhượng và vợ chồng ông T2, bà Đ giao tiền cho anh T nhận, bà khẳng định việc chuyển nhượng 40m² đất trên là có thật. Còn việc anh T có cho ông T2 vay tiền khi chơi bời không, vay thế nào bà không biết. Nay bà Đ làm đơn khởi kiện anh T, chị N, đề nghị Tòa án hòa giải để gia đình được thuận hòa. Nếu không hòa giải được, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông Hoàng Thế C1 trình bày: Vào thời điểm năm 2010, ông là trưởng khu A phường N. Ngày 04/12/2010, vợ chồng anh T đến nhà ông, mang theo 01 giấy viết tay có ghi Giấy chuyển nhượng đất và bảo ông xác nhận với tư cách là trưởng khu dân cư, anh chị đã trình bày về việc ông T2 bán 40m² đất giá 100.000.000đ cho anh T, giấy chuyển nhượng là do ông T2 viết. Ông có hỏi anh chị về việc ông T2 đã nhận tiền chưa, anh T khẳng định đã giao nhận tiền. Do nể nang nên ông ký xác nhận vào giấy chuyển nhượng đất từ ông T2 sang cho anh T. Còn thực tế ông T2 bán đất cho anh T như thế nào ông không biết. Tại thời điểm ông ký xác nhận chỉ có vợ chồng anh T đến, không có mặt ông T2, bà S nhưng văn bản đã có đầy đủ chữ ký của những người này. Chữ ký, chữ viết họ tên ông C1 trong giấy chuyển nhượng đất từ ông T2 sang cho anh T là của ông.
Ông Lê Xuân T5 trình bày: Ông là trưởng khu 14 phường N từ khoảng tháng 6/2006 đến tháng 9/2009. Sau khi được cán bộ Tòa án cho xem Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008, ông xác định chữ viết “khu 14 xác nhận ông Lê Văn T có hộ khẩu tại khu 14 và nội dung trong đơn là thực” cùng phần chữ ký, chữ viết họ tên của ông đúng là do ông viết. Do thời gian đã lâu, ông không nhớ chính xác ai là người mang giấy này đến gặp ông để xin xác nhận. Trước khi ông xác nhận như vậy, tại Giấy chuyển nhượng đất ở đã có nội dung, chữ ký của các bên tham gia giao dịch chuyển nhượng và phần nội dung chữ viết, chữ ký của ông Lê Văn V, bà Lê Thị T4 cùng với hình vẽ tay minh họa mô tả phần diện tích mua bán giữa hai bên.
Ông Lê Xuân Đ1 trình bày: Ông có quan hệ hàng xóm với ông T2 và bà Đ. Ông có nghe nói việc cụ Lê Thị N1 cho tặng ông T2 diện tích đất ao nhưng cụ thể cho vào thời điểm nào, diện tích bao nhiêu thì ông không biết. Ông được ông T2 và bà Đ thuê san lấp diện tích ao này nhưng không nhớ khối lượng cụ thể và trong thời gian bao lâu. Trước đó, ông T2 và bà T9 (vợ cả) đã san lấp đủ làm một nhà tranh khoảng 35 m² và một lối đi đằng trước. Ông làm xong ngày nào thì được trả công ngày đó. Tuy nhiên công san lấp chính là của vợ chồng ông T2 và bà Đ. Ông đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên tòa xét xử vụ án.
Ông Phạm Trọng N4 trình bày: Ông sinh ra và lớn lên tại địa chỉ số B L. Ông Nghĩa là cháu họ và cũng là hàng xóm của ông Lê Văn T2. Gia đình ông T2 vào Gia Lai làm kinh tế vài năm sau về địa phương không có đất ở phải đi ở nhờ. Ông T2 được bà bác ruột là cụ Lê Thị N1 cho một diện tích đất ao để làm nơi ở và thờ cúng tổ tiên vì là cháu đích tôn. Khoảng năm 1988-1989, ông T2 và bà T1 (vợ cả) lấp một phần ao làm nhà trên đó. Sau này bà T1 bỏ đi, ông T2 lấy bà Đ về tiếp tục lấp ao xây dựng nhà ở như hiện nay.
Ông Nguyễn Tú H2 trình bày: Ông là hàng xóm của ông T2, bà Đ2. Ông về sinh sống tại số A L từ năm 1985 đến nay. Khi đó tại địa chỉ 104,106 Lê Viết H3 vẫn là đất ao. Sau đó khoảng năm 1986-1987 ông T2 và bà T9 (vợ cả) có lấp ao xây nhà để ở.
Ông Lê Văn K trình bày: Ông được ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị Đ thuê làm công trình lợp mái tôn phía sau căn nhà tại địa chỉ A L, phường N, thành phố H nhưng không nhớ chính xác thời gian nào làm. Khi đó, gia đình ông T2 đã tháo dỡ toàn bộ công trình cũ. Mặc dù anh T, chị N có đến cản trở nhưng thợ vẫn làm và hoàn thành xong khung lợp mái tôn cho vợ chồng ông T2, bà Đ.
Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Xuân S tại nơi cư trú tuy nhiên, bà S không có mặt tại nhà và thông qua con gái của bà S là chị Vũ Phương N5 liên hệ gọi điện thoại trực tiếp cho bà S có sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn T10 - trưởng khu A phường N, thành phố H. Theo đó, bà S xác định không biết, không liên quan đến việc tranh chấp giữa ông Lê Văn T2 và anh Lê Văn T. Trường hợp Tòa án triệu tập bà S đến làm việc, tham gia phiên tòa thì bà đề nghị được vắng mặt.
Tại phiên tòa, các đương sự giữ nguyên quan điểm như đã trình bày nêu trên. Anh Tuấn xác định tài sản là nhà đất được ông Trọng T8 cho anh thì anh xác nhập vào là tài sản chung vợ chồng giữa anh và chị N. Ông T2 thừa nhận kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H là đúng.
Quá trình giải quyết vụ án, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H cung cấp tài liệu địa chính về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh T, vợ chồng bà Đ. Theo đó, thửa đất số 258, tờ bản đồ số 50, diện tích 144,8m², địa chỉ: khu A, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương, được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 310284 ngày 23/3/2020, tên chủ sử dụng: anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N; thửa đất số 259, tờ bản đồ số 50, diện tích 129,1m² địa chỉ: số A L, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 312630, ngày 27/4/2020, tên chủ sử dụng: ông Lê Văn T2, bà Nguyễn Thị Đ. Đến ngày 04/7/2020 ông T2, bà Đ tặng cho quyền sử dụng thửa đất này cho hai con trai là anh Lê Văn H1, anh Lê Văn H (GCN mới số CV 943239 ngày 21/7/2020).
Kết quả xác minh tại UBND phường N thể hiện:
Diện tích 40m² đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 258, tờ bản đồ số 50, địa chỉ số A L, khu A phường N, thành phố H do anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH-00232 do UBND thành phố H cấp ngày 23/3/2020. Toàn bộ thửa đất số 258 có nguồn gốc do ông Lê Văn T2 được cụ Lê Thị N1 tặng cho. Diện tích đất trồng cây lâu năm được xác định nằm ở phía Đông Nam thửa đất giáp với đường L, còn lại phía sau là đất ở, gia đình đã xây dựng công trình trên đất. UBND phường N rà soát, kiểm tra sổ đăng ký khai tử thấy không có thông tin khai tử của cụ Lê Thị N1, hiện nay mộ phần của cụ N1 được chôn cất tại nghĩa trang nhân dân phường N nhưng không xác định được thời điểm chôn cất tại đây.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 17/02/2023 như sau:
- - Về quyền sử dụng đất: Phía Đông Nam giáp mặt đường Lê Viết H3, phía Tây Nam giáp nhà đất ông T2 bà Đ, phía Tây Bắc giáp thửa đất số 11, phía Đông Bắc giáp đường N L. Tổng diện tích đất là 144,8m², thuộc vị trí số 1 đường L, giá trị đất ở: 22.000.000đ/m²; giá trị đất trồng cây lâu năm là 10.000.000đồng/m².
- - Tài sản trên đất: Nhà cấp 4 một tầng, mái bê tông cốt thép đã xuống cấp (xây ở giữa đất) diện tích 32,9m² và 01 mái hiên 5,8m², 01 cầu thang ngoài diện tích 3,7m² tổng giá trị là 34.928.600đ; 01 khu vệ sinh xây tường 10 lợp pro-xi-măng đã xuống cấp giáp đất nhà ông T2, bà Đ, 01 sân trạt xi-măng, mái lợp pro-xi-măng, tổng diện tích 56,4m² giáp mặt đường Lê Viết H3 trị giá 806.587đ; tường bao xung quanh đã xuống cấp, mái lợp khung tre. Phía sau thửa đất là khu công trình phụ bao gồm 01 gian nhỏ xây tường gạch chỉ mái prô-xi-măng để đồ dùng diện tích 4,0m² trị giá 4.580.800đ; 01 lán tôn khung thép, ba bên là tường gạch chỉ, mái tôn đã cũ, thủng, vợ chồng anh T làm khoảng năm 2004, diện tích 21,5m² trị giá 7.475.517đ. Phía Tây Nam là tường bao xây gạch chỉ và gạch ba banh chạy dài đất đã xuống cấp, tổng chiều dài 21,59m.
Tại Kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 03/11/2023, Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận về đối tượng giám định: Chữ số “100.000.000” và chữ viết “một trăm triệu chẵn” trên Giấy chuyển nhượng đất (ký hiệu A) với chữ số, chữ viết của Lê Văn T2 trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1 ->M4) là do cùng một người viết ra.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 05/09/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, quyết định:
- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ về việc công nhận Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008 giữa bà Nguyễn Thị Đ, ông Lê Văn T2 và anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N có hiệu lực và buộc anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N trả cho bà Nguyễn Thị Đ, ông Lê Văn T2 giá trị diện tích đất đã nhận chuyển nhượng theo Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N:
Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất theo Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008 giữa anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị Đ, ông Lê Văn T2 vô hiệu.
Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất theo Giấy chuyển nhượng đất ngày 04/12/2010 giữa ông Lê Văn T2 và anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N vô hiệu.
- Về giải quyết hậu quả của các hợp đồng vô hiệu:
Anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền là 238.528.000 đồng (làm tròn).
Ông Lê Văn T2 thanh toán cho anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N số tiền là 251.472.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Đ, ông Lê Văn T2 có nghĩa vụ trả lại phần diện tích 25,5m² thuộc thửa đất số 258 tại địa chỉ A L, phường N, thành phố H đang quản lý cho anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N. Giao toàn bộ các tài sản gồm lán tôn diện tích 21,5m², bếp diện tích 4m² trên phần diện tích 25,5m² thuộc thửa đất số 258 tại địa chỉ A L, phường N, thành phố H cho anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N sở hữu, quản lý, sử dụng (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
- Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn của ông Lê Văn T2 với bà Vũ Thị T1 gồm căn nhà cấp 4 (có hiên nhà), 01 cầu thang ngoài trên thửa đất số 258 tại địa chỉ A L, phường N, thành phố H.
Chấp nhận sự tự nguyện của ông Lê Văn T2 tặng cho anh Lê Văn T 1/2 tài sản chung với bà Vũ Thị T1.
Giao cho anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N toàn quyền sở hữu 01 căn nhà cấp 4 (có hiên nhà), 01 cầu thang ngoài tổng diện tích 42,4m² trên thửa đất số 258 tại địa chỉ A L, phường N, thành phố H (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Vũ Thị T1 1/2 giá trị của 01 căn nhà cấp 4, 01 cầu thang ngoài là tài sản chung của ông Lê Văn T2 và bà Vũ Thị T1 là 24.278.240 đồng và công sức san lấp, quản lý, duy trì đất của bà Vũ Thị T1 là 93.280.000 đồng, tổng bằng 117.558.240 đồng. Tạm giao số tiền bà Vũ Thị T1 được hưởng khi chia tài sản sau ly hôn cho anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N quản lý là 117.558.240 đồng. Anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N có trách nhiệm giao lại cho bà Vũ Thị T1 khi có yêu cầu.
Bản án còn giải quyết về lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19 tháng 09 năm 2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Đ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Đề nghị: Công nhận Giấy chuyển nhượng đất ở lập ngày 07/01/2008 giữa anh T, chị N cho anh H do vợ chồng ông T2, bà Đ đứng ra ký kết, thanh toán tiền có hiệu lực pháp luật; Giao diện tích 40m² đất cho ông T2, bà Đ đồng thời hợp vào thửa đất số 259, tờ bản đồ số 50, mà anh H và anh H1 đang đứng tên. Trường hợp anh T, chị N không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng ngày 04/12/2010 vô hiệu thì bà Đ cũng không yêu cầu giải quyết. Trường hợp anh T, chị N có yêu cầu thì bà Đ mới có yêu cầu giải quyết theo pháp luật. Trên cơ sở bản án phúc thẩm đề nghị xem xét lại về chi phí tố tụng theo pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên nội dung đã kháng cáo. Xác định “Giấy chuyển nhượng đất ở” lập ngày 07/01/2008 giữa vợ chồng anh T, chị N cho anh H, do vợ chồng ông T2, bà Đ đứng ra mua cho là có giá trị pháp lý. Vì: Anh T6, chị N có quyền chuyển nhượng đất hợp pháp. Việc chuyển nhượng đất ở là có thật, khách quan, phù hợp với nguyện vọng của các bên tham gia giao dịch. Ông T2, bà Đ đã thanh toán đầy đủ cho anh T6, chị N số tiền 50.000.000đồng là giá trị quyền sử dụng 40 m² Mà hai bên chuyển nhượng cho nhau. Ông T2, bà Đ, anh H, anh H1 đã sử dụng liên tục một phần diện tích nhận chuyển nhượng của anh T6, chị N từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay. Diện tích đất trên đủ điều kiện để nhập vào diện tích đất của anh H và anh H1 đang sử dụng ở thửa 259 giáp với thửa 258. Còn “Giấy chuyển nhượng đất” do ông T2 ký kết với anh T6, chị N ngày 04/12/2010 vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật và giả tạo.
Bị đơn không chấp nhận kháng cáo, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ và ông T2. Đề nghị giữ nguyên bán án dân sự sơ thẩm. Mục đích bị đơn giữ đất là để cho anh C một phần vì hiện tại anh C đang rất khó khăn về kinh tế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi đại diện Viện kiểm sát phân tích các tình tiết của vụ án, các căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ý kiến của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Đ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 05 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Bà Đ được miễn án phí án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về tố tụng: Người kháng cáo gửi đơn kháng cáo trong thời gian luật định và được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xác định là kháng cáo hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn:
- [2.1] Về nguồn gốc và quá trình biến động, sử dụng đất: Ông T2 và bà T1 kết hôn năm 1976, có đăng ký kết hôn tại Công an thị xã H. Ông bà có ba con chung là anh Lê Văn T, chị Lê Thị N3 và anh Lê Văn C. Gia đình ông T2 vào làm ăn ở Gia Lai, Kon Tum được một thời gian thì trở về Bắc. Bà Lê Thị T4 đã bàn với mẹ bà là cụ Lê Thị N1, cho ông T2 đất, cụ N1 đồng ý. Bà T4 đã liên hệ với địa phương chuyển quyền sử dụng đất ao cho ông T2. Thời gian cụ N1 tặng diện tích ao cho ông T2, bà T4 và ông T2 đều không nhớ. Sau đó, ông T2 và bà T1 đã đổ đất san lấp một phần diện tích ao khoảng 50m² để xây 01 ngôi nhà mái bằng hai gian và sinh sống cùng các con ở đây. Khoảng năm 1993-1994, bà T1 bỏ đi. Tòa án nhân dân thị xã Hải Dương đã giải quyết cho ông T2 và bà T1 ly hôn theo Bản án dân sự số 04 ngày 29/4/1996. Ông T2 xác định phần diện tích ao mà cụ N1 cho ông là tài sản riêng của ông, chỉ có ngôi nhà 02 gian trên đất là tài sản chung của ông và bà T1. Sổ mục kê lập năm 1987 được lập theo Chỉ thị 299 vẫn ghi tên cụ N1 là chủ sử dụng diện tích đất ao trên. Tại mục hiện trạng ruộng đất ghi “diện tích ao đã cho anh T2”. Địa phương không xác định được thời gian cụ N1 cho ông T2 diện tích đất ao trên. Năm 1995, ông T2 đã kê khai đứng tên thửa đất số 131, diện tích 308m². Như vậy, có căn cứ xác định thửa đất trên là tài sản của riêng ông T2, còn ngôi nhà trên đất là tài sản chung của ông T2 và bà T1 như cấp sơ thẩm nhận định.
- [2.2] Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh T, chị N với ông T2, bà Đ, anh H năm 2008:
- [2.2.1] Về hình thức của hợp đồng: Hợp đồng được lập thành văn bản, có người làm chứng, có xác nhận của trưởng khu dân cư, không có công chứng, chứng thực. Bên nhận chuyển nhượng đã giao đủ tiền và nhận một phần đất sử dụng; còn lại 14,4m² anh T, chị N chưa giao mà vẫn trực tiếp sử dụng. Căn cứ Điều 129 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật và có vi phạm quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch, trong trường hợp này các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
- [2.2.2]. Về chủ thể của hợp đồng chuyển nhượng: Thời điểm năm 2008, anh T chị N chưa được cấp giấy CNQSDĐ nhưng vẫn có quyền sử dụng hợp pháp vì đã được ông Trọng tặng cho một phần, còn một phần được anh C tặng cho để hợp thành thửa đất số 258, tờ bản đồ số 50. Anh H chưa đủ 18 tuổi nhưng được bố mẹ đẻ là ông T2 và bà Đ đại diện đứng ra ký hợp đồng nhận chuyển nhượng đất của anh T, chị N. Do đó, các chủ thể tham gia ký kết, thực hiện giao dịch dân sự là hợp pháp.
- [2.2.3]. Về nội dung: Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 07/01/2008 có nội dung chính là anh T có diện tích đất là 147m². Anh T6 chuyển nhượng cho anh H 40m² đất phía sau, có nêu tứ cận cụ thể, giá chuyển nhượng 50.000.000đồng. Anh T6 đã nhận đủ tiền, còn ông T2, bà Đ và anh H vẫn sử dụng một phần đất là 25,5m² thể hiện trên sơ đồ thẩm định của Tòa án. So sánh với giấy CNQSDĐ của hai thửa đất số 258 và 259 thì thấy trong 25,5m² nêu trên có 0,8m² thuộc thửa 259, còn 24,8m² đất nằm trong thửa số 258 và đây là phần đất có tranh chấp. Thời điểm lập hợp đồng, do anh H chưa đủ 18 tuổi nên ông T2 bà Đ đứng tên giao dịch. Nay anh H đã trên 18 tuổi, hiện anh H và anh H1 cùng được sử dụng thửa đất số 259, giáp với thửa đất 258, hai thửa đất cùng thuộc tờ bản đồ số 50. Bà Đ, ông T2, anh H, anh H1 đều đồng ý hợp diện tích đất nhận chuyển nhượng của anh T6 chị N vào thửa 259 của các anh.
Tại điểm c khoản 1 Điều 10, Quyết định số 37/2024/QĐ-U, ngày 12 tháng 9 năm 2024; Ban hành quy định hạn mức giao đất, hạn mức công nhận đất ở, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp; điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất; diện tích tối thiểu được phép tách thửa đất, hợp thửa đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương, quy định việc hợp thửa đất phải đảm bảo các nguyên tắc, điều kiện sau: “Thửa đất hình thành từ việc hợp thửa phải có diện tích lớn hơn hoặc bằng diện tích tối thiểu được phép tách thửa đất quy định tại Điều 14 Quy định này đối với từng loại đất trừ trường hợp hợp thửa đất đối với toàn bộ diện tích các thửa đất liền kề đã có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận mà thửa đất mới sau khi hợp thửa có diện tích không đảm bảo diện tích tối thiểu được phép tách thửa đất”.
Do đó, có căn cứ công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/01/2008 giữa các bên có hiệu lực một phần đối với diện tích đất mà bà Đ, ông T2, anh H đang sử dụng là 24,8m², thuộc thửa số 258, tờ bản đồ số 50 và anh H phải nhập vào thửa số 259, tờ bản đồ số 50, do anh H anh H1 có quyền sử dụng. Trong 14,4m² đất anh T6 chị N chuyển nhượng cho anh H có một 11,9m² nhà là tài sản chung hợp nhất của ông T2 và bà T1 chưa chia khi họ ly hôn. Việc anh T6, chị N chuyển nhượng cho ông T2, bà Đ, anh H diện tích đất có nhà của bà T1 và ông T2 là trái pháp luật nên hợp đồng chuyển nhượng ngày 07/01/2008 đối với phần diện tích đất 14,4m² bị vô hiệu.
- [2.2.4] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Giá trị quyền sử dụng 14,4m² đất bằng 14,4m² x 22.000.000đ/m² = 316.800.000đồng. Năm 2008, anh T6 chị N đã nhận số tiền trị giá 14,4m² bằng 18.000.000đồng. Chênh lệch giá đất là 298.800.000đồng. Xét lỗi dẫn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/01/2008 vô hiệu là do cả hai bên nên mức độ tính lỗi mỗi bên bằng ½, tương đương số tiền 149.400.000đồng. Anh T6, chị N có lỗi 50% nên phải bồi thường cho bà Đ, ông T2 là 149.400.000đồng. Giao cho anh H tiếp tục sử dụng diện tích 24,8m² đất thuộc thửa số 258, tờ bản đồ số 50 và được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục hợp với thửa đất số 259, tờ bản đồ số 50, địa chỉ hai thửa đất: 106 L, khu A, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương
- [2.2.5] Ông T2 bà Đ tự nguyện cho anh H sở hữu toàn bộ tài sản của ông bà tạo lập hiện có trên diện tích đất trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [2.3] Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T2, với anh T6 ngày 04/12/2010:
- [2.3.1] Về hình thức của hợp đồng: Hợp đồng được lập thành văn bản, có người làm chứng, có xác nhận của trưởng khu dân cư, không có công chứng, chứng thực. Ông T2 đã nhận 100.000.000đồng, anh T6 vẫn đang sử dụng 14,4m² đất (trên đất có 11,9m² nhà của ông T2 bà T1); diện tích đất còn lại vẫn do bà Đ, ông T2, anh H trực tiếp sử dụng. Căn cứ Điều 129 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, trong trường hợp này các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
- [2.3.2]. Về chủ thể và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng: Như đã phân tích ở trên, trong tổng số 40m² đất đang tranh chấp, (trong đó có 0,8m² thuộc thửa 259) ông T2, bà Đ, anh H được quyền sử dụng hợp pháp 24,8m², diện tích đất 14,4m² vẫn thuộc quyền sử dụng của anh T6, chị N, trên đất còn có một phần căn nhà của bà T1 và ông T2. Ông T2 tự định đoạt đối với toàn bộ 40m² đất nêu trên là vi phạm điều cấm của pháp luật về chủ thể và nội dung nên hợp đồng này vô hiệu toàn bộ.
- [2.3.3]. Cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T2, với anh T6 ngày 04/12/2010 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [2.2.5]. Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, một phần yêu cầu phản tố của bị đơn. Cần sửa bản án dân sự sơ thẩm mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
- [3]. Về chi phí thẩm định: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn đều không được chấp nhận một phần nên mỗi bên phải chịu ½ chi phí thẩm định. Bà Đ đã chi tạm ứng 5.200.000đồng, do đó anh T6 chị N phải hoàn trả bà Đ 2.600.000đồng.
- [4]. Về án phí: Kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh T6, chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
- [5]. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 122, Điều 127, Điều 128, Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 106, Điều 127 Luật Đất đai năm 2003; Điều 194 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 38, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 147, 148, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ, một phần kháng cáo của ông Lê Văn T2. Sửa bán án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 05/09/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ, một phần yêu cầu của ông Lê Văn T2.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N.
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với tiêu đề “Giấy chuyển nhượng đất ở” ngày 07/01/2008 giữa bà Nguyễn Thị Đ, ông Lê Văn T2, anh Lê Văn H với anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N có hiệu lực một phần đối với diện tích đất là 24,8m² thuộc thửa đất số 258, tờ bản đồ số 50, địa chỉ: A L, phường N, TP H, tỉnh Hải Dương.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với tiêu đề “Giấy chuyển nhượng đất ở” ngày 07/01/2008 giữa anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị Đ, ông Lê Văn T2, anh Lê Văn H vô hiệu một phần đối với diện tích đất là 14,4m², thuộc thửa đất số 258, tờ bản đồ số 50, địa chỉ: A L, phường N, TP H, tỉnh Hải Dương.
- Chấp nhận sự tự nguyện của ông Lê Văn T2, bà Nguyễn Thị Đ cho anh Lê Văn H, anh Lê Văn H1 sở hữu toàn bộ tài sản có trên diện tích đất 24,8m² thuộc thửa đất số 258, tờ bản đồ số 50, và 0,8m² đất thuộc thửa đất số 259, tờ bản đồ số 50, địa chỉ: A L, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương, gồm: lán tôn diện tích 21,5m², bếp diện tích 4m².
- Giải quyết hậu quả của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với tiêu đề “Giấy chuyển nhượng đất ở” ngày 07/01/2008 vô hiệu một phần như sau:
- Buộc anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N phải trả cho ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị Đ số tiền 149.400.000đồng (một trăm bốn mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Giao cho anh Lê Văn H được quyền sử dụng 24,8m² đất thuộc thửa đất số 258, tờ bản đồ số 50, địa chỉ: A L, phường N, TP H, tỉnh Hải Dương được giới hạn bởi các điểm DEFGTPQXRAC.
- Anh Lê Văn H được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục hợp thửa đối với diện tích 24,8m² đất thuộc thửa đất số 258 vào thửa đất số 259, cùng thuộc tờ bản đồ số 50, địa chỉ: A L, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương theo quy định của pháp luật về đất đai.
(có sơ đồ kèm theo).
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tiêu đề “Giấy chuyển nhượng đất” ngày 04/12/2010 giữa ông Lê Văn T2 với anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N vô hiệu.
- Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Ông Lê Văn T2 phải trả cho anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N số tiền là 251.472.000 đồng (hai trăm năm mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Buộc bà Nguyễn Thị Đ và anh Lê Văn T, chị Nguyễn Thị N mỗi bên phải chịu 2.600.000 đồng. Bà Đ đã chi tạm ứng số tiền 5.200.000đồng. Buộc anh T, chị N phải trả cho bà Đ 2.600.000đồng.
- Về chi phí giám định: Buộc ông Lê Văn T2 phải chịu toàn bộ chi phí giám định 5.000.000 đồng (ông T2 đã nộp).
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ, ông Lê Văn T2 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm.
Anh T6, chị N phải chịu 7.521.800đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊ TÒA Phạm Thúy Hằng |
Bản án số 70/2025/DS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và chia tài sản sau ly hôn
- Số bản án: 70/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và chia tài sản sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Đ -Lê Văn T
