|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
1
Bản án số: 53/2025/HNGĐ - ST
Ngày 17 - 3 - 2025
V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Lộc
Ông Nguyễn Văn Mầm
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Cái Nước.
Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 712/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị H - Sinh năm 1982 (Có mặt)
Cư trú: ấp 1, xã K, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G - Sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Cư trú: ấp T, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 04.9.2024 và các lời khai tại Tòa án, chị Võ Thị H (Nguyên đơn) trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh G kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào ngày 07/02/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 6 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cự cãi và sống ly thân đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh G.
- Về con chung: Chị Võ Thị H và anh Nguyễn Trường G có 01 người con chung tên Nguyễn Trọng H, sinh ngày 27/9/2014, hiện nay đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Võ Thị H xác định trong thời gian chung sống có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Võ Thị H xác định trong thời gian chung sống chị và anh G không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Trường G, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị H nhưng anh G không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh G tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh G vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa anh, chị được.
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Trường G tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh G vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh G theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về hôn nhân: Chị H và anh G kết hôn ngày 07/02/2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị H và anh G được quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn giữ quan điểm xin được ly hôn với anh G, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, đã có thời gian sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh G không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại Tòa án để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị H, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh G đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị H, cho chị H được ly hôn với anh G là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Võ Thị H và anh Nguyễn Trường G có 01 người con chung tên Nguyễn Trọng H, sinh ngày 27/9/2014, hiện nay đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/02/2025 thì cháu H có nguyện vọng được sống chung với mẹ ruột là chị H. Xét thấy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm cháu H đã trên 07 tuổi nhưng dưới 18 tuổi, đây là ý chí tự nguyện của cháu H. Đồng thời từ khi chị H và anh G ly thân thì cháu H sống chung với chị H sức khỏe cũng đã ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Trọng H, sinh ngày 27/9/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị Võ Thị H xác định trong thời gian chung sống chị và anh G có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị Võ Thị H xác định trong thời gian chung sống không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Anh G vắng mặt không có ý kiến về con chung, tài sản và nợ chung nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị H phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 244, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 9, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H.
Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.
Về con chung: Giao cho chị Võ Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Trọng H, sinh ngày 27/9/2014. Anh Nguyễn Trường G không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Chị Võ Thị H có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0018987 ngày 10 – 12 – 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, sau khi đối trừ chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Nguyễn Trường G không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai chị Võ Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Trường G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Kiệt |
Bản án số 53/2025/HNGĐ - ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 53/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ về việc xin ly hôn
