|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2025/HS- PT Ngày: 15 – 4 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm.
Ông Nguyễn Chí Dũng.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Dương Thị Bích T cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Dương Thị Bích T, sinh năm 1968 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 06/12; con ông Dương Văn D (chết) và con bà Huỳnh Thị L (chết); có chồng và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Võ Tấn D1, sinh năm 1997 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 08/12; con ông Võ Văn T1, sinh năm 1966 và con bà Dương Thị Bích T, sinh năm 1968; có vợ, con chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo:
Luật sư Dương Minh H- Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L.
Bị hại:
Lê Thị Đ, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Võ Văn T1, sinh năm 1966 (vắng mặt).
- Huỳnh Thị Hoa Hồng H1, sinh năm 2003 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tom tắt như sau:
Do quen biết trong việc mua bán vải, nên bị cáo Dương Thị Bích T có hỏi vay của bà Lê Thị Đ số tiền gốc và lãi 200.000.000 đồng.
Không thấy T trả nợ, bà Đ điện thoại hỏi, T nói bị nợ xấu ngân hàng, bà Đ nói T bồi dưỡng tiền cho cán bộ ngân hàng để hồ sơ giải ngân sớm. Sau đó, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà Đ, nói chuyển tiền để bồi dưỡng cán bộ ngân hàng, nhưng thực tế T không vay tiền ngân hàng. Tổng cộng, T đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà Đ 05 lần, tổng số tiền 23.800.000 đồng, trong đó bị cáo Võ Tấn D1 (con bị cáo T) giúp sức 04 lần với tổng số tiền 19.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhất: Ngày 16/01/2024, bị cáo T điện thoại cho bà Đ nói cần tiền bồi dưỡng cho người tên A là cán bộ Ngân hàng V chi nhánh huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nói bà Đ chuyển vào số tài khoản 0939771463, tên Huỳnh Thị Hoa Hồng H1, mở tại Ngân hàng T2, bà Đ chuyển số tiền 4.800.000 đồng. Do T thiếu H1 số tiền 5.000.000 đồng, khi nhận được số tiền trên T đã trả nợ cho H1.
- - Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất vài ngày, T dùng thủ đoạn như lần thứ nhất, bà Đ yêu cầu gặp cán bộ ngân hàng. Lúc này, T nói bị cáo Võ Tấn D1 điện thoại cho bà Đ nói tên A là cán bộ ngân hàng, T nợ xấu ngân hàng nên không giải ngân được, yêu cầu bà Đ chuyển số tiền 3.000.000 đồng để làm hồ sơ, D1 đồng ý. Sau khi nói chuyện điện thoại với D1, bà Đ giao cho T số tiền 3.000.000 đồng, tại khóm B, thị trấn T.
- - Lần thứ ba: Cách lần thứ hai 02 ngày, T tiếp tục nói D1 điện thoại cho bà Đ nói hồ sơ chưa giải ngân được, yêu cầu bà Đ chuyển tiền. Dủ điện thoại, bà Đ đồng ý, giao cho T số tiền 3.000.000 đồng.
- - Lần thứ tư: Cách lần thứ ba 02 ngày, T tiếp tục nói bà Đ hồ sơ chưa giải ngân được, bà Đ điện thoại cho D1, D1 nói hồ sơ chưa giải ngân được, yêu cầu bà Đ chuyển số tiền 3.000.000 đồng, bà Đ đồng ý, hẹn giao cho T số tiền 3.000.000 đồng.
- - Lần thứ năm: Đến ngày 30/01/2024, T nói D1 điện thoại cho bà Đ chuyển số tiền 10.000.000 đồng để hoàn thiện hồ sơ vay. Dủ điện thoại nói, yêu cầu bà Đ chuyển tiền vào số tài khoản 6506275261926, bà Đ không đồng ý chuyển khoản, hẹn giao nhận trực tiếp tại quán P. Đến khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 01/02/2024 tại quán P thuộc khóm B, thị trấn T, nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, lập biên bản về việc T nhận số tiền 10.000.000 đồng từ bà Đ.
Vật chứng thu giữ:
04 đĩa DVD-R lưu file âm thanh; 20 tờ tiền loại polyme, mệnh giá 500.000 đồng; 01 (một) giấy biên nhận tiền tên Võ Thị Mỹ N, số tiền 100.000.000 đồng, ngày 13/12/2023; 01 (một) giấy biên nhận tiền tên Dương Thị Bích T, số tiền 200.000.000 đồng, ngày 13/11/2023; 01 (một) giấy biên nhận tiền tên Dương Thị Bích T, Võ Thị Mỹ N, số tiền 100.000.000 đồng, ngày 13/11; 02 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA và OPPO Ren08T, 01 xe mô tô biển số 66N1-021.53; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Võ Thị Mỹ N đứng tên, số CI836965.
Theo Kết luận giám định số 176/KT-KTHS ngày 14/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: 20 (hai mươi) tờ tiền Việt Nam loại polymer mệnh giá 500.000 đồng cần giám định ký hiệu A1 đến A20 đều là tiền thật.
Theo Kết luận giám định số 1665/KT-KTHS ngày 14/5/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hội thoại trong 02 file âm thanh mẫu cần giám định (có ký hiệu A1, A2); Tiếng nói (giọng nói) của người nữ xưng là “em” trong file âm thanh mẫu cần giám định (có ký hiệu A1) và tiếng nói của Dương Thị Bích T trong mẫu so sánh (ký hiệu M1) là của cùng một người nói ra; Tiếng nói (giọng nói) của người nam trong file âm thanh mẫu cần giám định (có ký hiệu A2) và tiếng nói của Võ Tấn D1 trong mẫu so sánh (ký hiệu M2) là của cùng một người nói ra.
Theo Kết luận giám định số 1418/KT-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Chữ ký (dạng chữ viết tên) và chữ viết trên 3 tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ viết của Dương Thị Bích T trên tài liệu mẫu ký hiệu M là do cùng một người viết ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS- ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Thị Bích T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Dương Thị Bích T 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Võ Tấn D1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Tấn D1 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 08/01/2025, các bị cáo Dương Thị Bích T, Võ Tấn D1 có đơn kháng cáo với cùng nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Sau đó, các bị cáo thay đổi kháng cáo, chuyển sang kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Dương Thị Bích T, Võ Tấn D1 không thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo T cho rằng trong số tiền 23.800.000 đồng mà bản án sơ thẩm kết luận bị cáo chiếm đoạt, có 13.800.000 đồng bị cáo đã nhận của bị hại Đ là tiền mà bà Đ cho bị cáo vay, chứ bị cáo không dùng thủ đoạn gian dối lừa bà Đ, đối với số tiền 10.000.000 đồng bị bắt quả tang thì bà Đ gọi bị cáo để cho vay chứ bị cáo cũng không dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo bà Đ. Bị cáo cho rằng các lời khai của bị cáo ở Cơ quan điều tra bị cáo có ký tên nhưng không có khai như vậy mà do Điều tra viên tự viết, còn lời bị cáo khai thật thì bị Điều tra viên bỏ ra, còn đối với bản tự khai thì Điều tra viên đọc cho bị cáo viết theo.
Bị cáo D1 thi khai rằng trong quá trình điều tra bị cáo bị Điều tra viên hâm doạ nếu không khai theo ý Điều tra viên thì sẽ bị tạm giam, nên bị cáo sợ mà khai; việc bị cáo D1 giả danh người mang tên A- cán bộ Ngân hàng là làm theo yêu cầu của bà Đ, bà Đ kêu D1 làm vậy để chồng, con và gia đình bà Đ tin tưởng vào việc cho vay của bà Đ, không cự cãi, la rầy bà Đ.
Các bị cáo Dương Thị Bích T, Võ Tấn D1 giữ nguyên kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định hành vi của các bị cáo Dương Thị Bích T, Võ Tấn D1 bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật; xử phạt bị cáo T mức án 01 năm tù, bị cáo D1 09 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra; Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã có xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo. Sau khi án sơ thẩm xét xử, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo nhưng thay đổi chuyển sang kháng cáo kêu oan, cho rằng không phạm tội. Tuy nhiên, qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định các bị cáo có tội, không oan, sai; không có cơ sở xác định quá trình điều tra các bị cáo bị dụ cung, bức cung, nhục hình, các tài liệu, chứng cứ, lời khai thu thập được là đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của các bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Dương Thị Bích T phát biểu: Hồ sơ vụ án chưa được Toà án cấp sơ thẩm kiểm chứng đầy đủ, chứng cứ thu thập được còn mâu thuẫn, đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Bởi vì, Đơn tố cáo của bà Đ là sai sự thật, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sơ thẩm không phân tích đầy đủ. Trong Đơn tố cáo, bà Đ nói bị cáo T, chị Mỹ N có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bà Đ nói bị cáo T đáo nợ Ngân hàng qua nhiều lần vay, bà Đ thừa nhận đây là giao dịch dân sự; bà Đ yêu cầu bị cáo T thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu T viết biên nhận vay 200.000.000 đồng nên bị cáo T viết theo yêu cầu của bà Đ. Bị cáo T không có tài sản thế chấp thì làm gì vay đáo hạn được? Mỹ Nhân là con của bà T, không giao dịch gì với bà Đ mà bà Đ tố cáo Mỹ N là sai sự thật. Bà Đ yêu cầu bị cáo T thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị Mỹ N đứng tên là vi phạm pháp luật. Hồ sơ thể hiện, bà Đ yêu cầu bị cáo T viết 02 biên nhận là trái với ý muốn của bị cáo T. Bị cáo T viết biên nhận nhưng không nhận tiền của bà Đ. Theo Đơn kêu oan của bị cáo T thì qua nhiều lần viết biên nhận nhưng bà Đ không có giao tiền cho bị cáo T. Lời khai của bà Đ và bị cáo T có mâu thuẫn. Bà Đ nhiều lần điện thoại cho bị cáo T để cho mượn 23.800.000 đồng. Đây là số tiền bà Đ cho bị cáo T mượn chứ không phải tiền bị cáo T lừa đảo. Bà Đ kêu bị cáo T nói với bị cáo D1 giả danh là cán bộ Ngân hàng tên A rồi điện cho bà Đ để cho chồng, con bà Đ tin tưởng bà Đ. Đơn tố cáo của bà Đ là sai sự thật, các nội dung trên chưa được làm rõ nên đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung.
Tại phần tranh luận, các bị cáo Dương Thị Bích T, Võ Tấn D1 không tham gia tranh luận. Trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận lời bào chữa của Luật sư, trả hồ sơ điều tra bổ sung, lấy lời khai các bị cáo lại để làm sáng tỏ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Dương Thị Bích T, Võ Tấn D1 cho rằng không phạm tội. Bị cáo T cho rằng số tiền 23.800.000 đồng mà bản án sơ thẩm kết luận bị cáo chiếm đoạt đều là tiền mà bị hại Đ cho bị cáo vay, chứ bị cáo không dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo bị hại Đ, trong đó có số tiền 10.000.000 đồng bị bắt quả tang thì bị hại Đ cũng gọi bị cáo để cho vay. Bị cáo cho rằng các lời khai của bị cáo ở Cơ quan điều tra đều do Điều tra viên ép buộc bị cáo khai, ký tên chứ bị cáo không có khai như vậy. Bị cáo D1 thì khai rằng trong quá trình điều tra bị Điều tra viên hâm doạ nếu không khai theo ý Điều tra viên thì sẽ bị tạm giam, nên bị cáo sợ mà khai; việc bị cáo D1 giả danh người mang tên A là cán bộ Ngân hàng V là làm theo yêu cầu của bà Đ để chồng, con và gia đình bà Đ tin tưởng vào việc cho vay của bà Đ.
Qua lời khai của các bị cáo tại phiên toà phúc thẩm, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thì thấy rằng các lời khai nại này là không có căn cứ chấp nhận. Bởi vì, toàn bộ quá trình điều tra cho thấy tất cả các lời khai, bản cung, bản tự khai của các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 23.800.000 đồng của bị hại, trong đó vai trò của bị cáo T là chủ mưu, cầm đầu còn bị cáo D1 giữ vai trò giúp sức. Lời khai của hai bị cáo là phù hợp nhau, lời khai của bị cáo kia chứng minh cho lời khai của bị cáo kia, không có mâu thuẫn. Lời khai của các bị cáo còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khi nhận Kết luận điều tra, Cáo trạng các bị cáo đều đồng ý, không khiếu nại, phản đối kết quả điều tra. Tại phiên toà sơ thẩm, lời khai của các bị cáo phù hợp với kết quả điều tra, truy tố. Quá trình điều tra cũng không có cơ sở xác định Điều tra viên, Kiểm sát viên bức cung, nhục hình hay ép cung, dụ cung các bị cáo. Việc các bị cáo thay đổi kháng cáo từ xin giảm nhẹ hình phạt sang kêu oan cũng chỉ dựa vào lời khai, đơn đề nghị, đơn trình bày, ý kiến... của các bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc kêu oan là có cơ sở. Trong vụ án này, chỉ truy tố, xét xử đối với hành vi của các bị cáo lừa đảo chiếm đoạt số tiền 23.000.000 đồng của bị hại, còn quan hệ vay đối với số tiền 200.000.000 đồng do chưa đủ dấu hiệu hình sự nên các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã không xử lý.
[2] Từ các phân tích trên có đủ căn cứ khẳng định Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS- ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp kết án các bị cáo Dương Thị Bích T, Võ Tấn D1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên đối với các bị cáo và đã có áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, các bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo; Tòa án cấp sơ thẩm cũng có đánh giá bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Do đó mức hình phạt 01 năm tù đối với bị cáo T và 09 tháng tù đối với bị cáo D1 mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Nay các bị cáo kháng cáo kêu oan là không có căn cứ để chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
[3] Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận. Không có căn cứ chấp nhận lời bào chữa của Luật sư, lý do đã phân tích ở các phần trên.
[5] Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của các bị cáo Dương Thị Bích T, Võ Tấn D1.
Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Thị Bích T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Dương Thị Bích T 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Võ Tấn D1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Tấn D1 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Trả lại cho ông Võ Văn T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển số 66N1 – 021.53, màu trắng (xe đã qua sử dụng).
- - Trả cho bà Lê Thị Đ: 01 giấy biên nhận tiền tên Võ Thị Mỹ N, số tiền 100.000.000 đồng, ngày 13/12/2023; 01 giấy biên nhận tiền tên Dương Thị Bích T, số tiền 200.000.000 đồng, ngày 13/11/2023; 01 giấy biên nhận tiền tên Dương Thị Bích T, Võ Thị Mỹ N, số tiền 100.000.000 đồng, ngày 13/11; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Võ Thị Mỹ N, số CI836965.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu xanh, loại bàn phím (màu xanh), gắn thuê bao số 0377264935 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Ren08T (màu vàng), gắn thuê bao số 0768759529, số IMEI 863126062715437 (đã qua sử dụng).
(Các vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/11/2024).
- Về án phí:
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Dương Thị Bích T, Võ Tấn D1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp vật chứng đã được thi hành theo quyết định của Bản án sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 27/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp thì được xem là đã thi hành án xong.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 70/2025/HS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 70/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị Bích T cùng đồng phạm
