Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 70/2025/HS-ST

Ngày 09 - 04 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Ngọc Anh.
  2. Bà Đặng Thị Huê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:

Dương Duy K;

sinh năm 19, tại Vĩnh Long; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: không nơi cư trú nhất định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Dương Thị L, họ tên cha (không rõ); tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 26/4/2023, bị Công an huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 13/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù (Bản án số 211/2023/HS-ST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2024, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm và các khoản bồi thường dân sự.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2024 đến nay. (có mặt)

  • - Bị hại: Chị Phan Thị Thanh D, sinh năm: 1964; Nơi cư trú: ấp P, xã L, huyện B, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Duy K là đối tượng không có nghề nghiệp và không có nơi cư trú ổn định, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên K nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Thực hiện ý định trên, vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/8/2018, K điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, không biển số từ thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đi đến chợ đầu mối B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản sở hở trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Vào khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, khi K đi ngang qua vựa “Thanh Dung", NA003 nhà lồng B, chợ B, K nhìn thấy 02 bao nấm rơm của chị Phan Thị Thanh D không có người trông coi nên đã dùng hai tay ôm 02 bao nấm rơm này để lên xe mô tô của K rồi lên xe định tăng ga bỏ chạy thì bị anh Trần Trương Đình P (bảo vệ chợ B) điều khiển xe mô tô tông xe trúng vào xe mô tô của K khiến K ngã xuống đường và bỏ chạy do sợ bị bắt giữ, một lúc sau thì K bị anh Nguyễn Phú T (là bảo vệ của chợ B) giữ lại và giao cho Công an P1, Quận H. Sau đó, lực lượng Công an đưa K cùng vật chứng về trụ sở làm việc và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 27/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra yêu cầu định giá tài sản số 811/CV-CQCSĐT-ĐTTH đề nghị Hội đồng định giá tài sản của Ủy ban nhân dân Quận H tiến hành định giá giá trị tài sản 57kg nấm rơm là tài sản bị K trộm cắp vào ngày 15/8/2018. Ngày 22/10/2018, Hội đồng định giá tài sản của Ủy ban nhân dân Quận H có Kết luận định giá tài sản xác định giá trị tài sản bị K chiếm đoạt trong vụ việc trên như sau: 57kg nấm rơm có giá trị 6.840.000 đồng.

Ngày 03/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 22/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH; Quyết định khởi tố bị can số 24/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH và Lệnh bắt bị can để tạm giam số 14/L-CQCSĐT-ĐTTH ngày 03/01/2023 đối với Dương Duy K về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự để điều tra.

Ngày 03/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định truy nã bị can số 14/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Dương Duy K.

Đến ngày 30/10/2024, Công an xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long tiến hành lập biên bản bắt người đang bị truy nã đối với Dương Duy K và ngày 31/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự số 4934/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH, Quyết định phục hồi điều tra bị can số 4935/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH đối với Dương Duy K về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra bị can Dương Duy K khai nhận hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có tại hồ sơ.

Vật chứng vụ án:

  • 57kg nấm rơm của chị Phan Thị Thanh D là tài sản K trộm cắp. Ngày 15/8/2018, Công an P1, Quận H đã trả lại tài sản trên cho chị D;
  • 01 xe mô tô kiểu dáng Dream không biển số. Qua xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông Công an Q được biết xe mô tô, số máy: 100FM368421, số khung: VHMPCG0021B000054 do ông Võ Văn V, ngụ thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Xe mô tô trên do ông V mua vào năm 2001 với giá khoảng 10.000.000 đồng và đứng tên chủ sở hữu, năm 2004 ông V có bán xe này lại cho một cửa hàng mua bán xe máy cũ trên đường K (ông V không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) với giá 7.000.000 đồng, khi bán xe thì ông V không có làm thủ tục sang tên chủ sở hữu theo quy định, nhưng có giấy bán viết tay (do đã lâu nên giấy mua bán viết tay này ông V không còn lưu giữ nữa). Bị cáo Dương Duy K khai nhận xe trên K mua vào năm 2013 với giá 2.100.000 đồng (K chưa sang tên và đã làm thất lạc giấy mua bán). Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra công văn đăng báo để tiếp tục tìm chủ sở hữu nhưng chưa có ai liên hệ làm việc.

Về phần dân sự: chị Phan Thị Thanh D đã nhận lại tài sản bị lấy trộm và không yêu cầu bị cáo K bồi thường dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-Q8 ngày 19/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Dương Duy K về tội “Trộm cắp tài sảntheo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Duy K về tội “Trộm cắp tài sảnSau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, do bị hại đã nhận lại tài sản và xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào ngày 15/8/2018 tại vựa “T”, NA003 nhà lồng B, chợ đầu mối B, Phường G, Quận H, bị cáo Dương Duy K có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 bao nấm rơm nặng 57 kg của chị Phan Thị Thanh D với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.840.000 đồng.
  3. [3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Xét thấy, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 6.840.000 đồng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là “... trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...”. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Dương Duy K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
  5. [5] Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại thuộc trường hợp phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn nên Hội đồng xét xử căn cứ các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
  6. [6] Trong quá trình cơ quan điều tra khởi tố vụ án, bị cáo bỏ trốn và bị truy nã. Đầu tháng 3/2023 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tuy không xem là án tích nhưng thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét, cân nhắc để áp dụng mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.
  7. [7] Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  8. [8] Về xử lý vật chứng:
    • 01 xe mô tô số máy: 100FM368421, số khung: VHMPCG0021B000054 do ông Võ Văn V, ngụ thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Xe mô tô trên do ông V mua vào năm 2001 với giá khoảng 10.000.000 đồng và đứng tên chủ sở hữu, năm 2004 ông V có bán xe này lại cho một cửa hàng mua bán xe máy cũ trên đường K (ông V không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) với giá 7.000.000 đồng, khi bán xe thì ông V không có làm thủ tục sang tên chủ sở hữu theo quy định, nhưng có giấy bán viết tay (do đã lâu nên giấy mua bán viết tay này ông V không còn lưu giữ nữa). Bị cáo Dương Duy K khai nhận xe trên K mua vào năm 2013 với giá 2.100.000 đồng (K chưa sang tên và đã làm thất lạc giấy mua bán). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra công văn đăng báo để tiếp tục tìm chủ sở hữu nhưng chưa có ai liên hệ làm việc. Do đó, cần tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp xe trên trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  9. [9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Thị Thanh D đã nhận lại tài sản và xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  10. [10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Dương Duy K 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/10/2024.
  • - Tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp 01 xe mô tô kiểu dáng Dream không biển số, số máy: 100FM368421, số khung: VHMPCG0021B000054 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước

    (Theo biên bản giao - nhận tang tài vật ngày 28/3/2025)

  • - Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Quận 8;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - CQĐT CA TP. HCM;
  • - CQ THA HS CA TP. HCM;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Quận 8-
  • Trại tạm giam Chí Hòa;
  • - Chi cục THA DS Quận 8;
  • - Người tham gia tố tụng khác
  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - PC06;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 15/8/2018 tại vựa “T”, NA003 nhà lồng B, chợ đầu mối B, Phường G, Quận H, bị cáo Dương Duy K có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 bao nấm rơm nặng 57 kg của chị Phan Thị Thanh D với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.840.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger