Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13/02/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm

Ông Phạm Công Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 672/2024/HNGĐ-TLST ngày 12/12/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐ-ST ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Huy Đ, sinh ngày 21/5/1986.

    Địa chỉ: Khu Dân cư M, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

  2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh ngày 23/7/1989.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư Mật Sơn, phường Chí Minh, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Đài Loan.

( Anh Đ, chị T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn anh Nguyễn Huy Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 22/02/2012. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được 5 năm, sau đó anh và chị T đều sang Đài Loan lao động, nhưng mỗi người sống một nơi. Thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc. Tuy nhiên do sống xa nhau dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Năm 2022 anh về Việt Nam, còn chị T tiếp tục ở Đài Loan lao động, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra ngày càng trầm trọng. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.

Về quan hệ con chung: Anh và chị T có 1 con chung là Nguyễn Yến N, sinh ngày 31/01/2013. Hiện cháu N đang sống cùng anh, ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị T không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Chị Hoàng Thị T hiện nay đang lao động tại Đài Loan, do anh Đ không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị T, nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của chị T thông qua gia đình. Bà Vũ Thị T1 là mẹ đẻ chị T xác định, chị T hiện đang lao động tại Đài Loan, địa chỉ của chị T ở nước ngoài bà không biết, nhưng chị T thường xuyên liên lạc về gia đình. Bà T1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho chị T biết. Thông qua gia đình, tại buổi làm việc cùng Tòa án, chị T có quan điểm đồng ý ly hôn với anh Đ. Về con chung chị T đồng ý để anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Yến N, chị không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung chị T xác định không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện công việc chị chưa thể về Việt Nam, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Vũ Thị T1 nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.

- Cháu Nguyễn Yến N là con chung của anh Đ, chị T có quan điểm được ở với bố khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa anh Đ, chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh Đ được ly hôn chị T. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Yến N, sinh ngày 31/01/2013 cho chị anh Nguyễn Huy Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Huy Đ và chị Hoàng Thị T đều có hộ khẩu thường trú tại Khu dân cư M, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện nay chị T đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không cung cấp được địa chỉ của chị T tại Đài Loan. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình chị T cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình chị T được biết, chị T thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Vũ Thị T1. Bà T1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị T biết. Thông qua gia đình chị T cũng đã có quan điểm về việc ly hôn và nuôi con.

Anh Đ, chị T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Huy Đ và chị Hoàng Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 22/02/2012, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù anh Đ, chị T có thời gian cùng lao động ở Đài Loan nhưng mỗi người sống một nơi, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn chị T. Quá trình giải quyết vụ án, thông qua gia đình chị T cũng có quan điểm xác định không còn tình cảm với anh Đ và đồng ý ly hôn. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh Đ và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đ.

- Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Huy Đ và chị Hoàng Thị T có một con chung là Nguyễn Yến N, sinh ngày 31/01/2013, ly hôn anh Đ có nguyện vọng được nuôi con, chị T cũng đồng ý. Xét thấy, hiện tại cháu N đang sinh sống cùng với bố, chị T lao động ở nước ngoài nên anh Đ có điều kiện trực tiếp chăm sóc con tốt hơn. Do vậy cần giao cháu N cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nguyện vọng của cháu N. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Huy Đ và chị Hoàng Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Anh Nguyễn Huy Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Huy Đ được ly hôn chị Hoàng Thị T.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Yến N, sinh ngày 31/01/2013 cho anh Nguyễn Huy Đ chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Đ không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con.

    Chị Hoàng Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Anh Nguyễn Huy Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005412 ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Huy Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Chị Hoàng Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 70/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger