Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ

TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 10 - 12 - 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Trình
  2. Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 419/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ông Đỗ Ngọc L, sinh năm: 1977

Nơi ĐKNKTT: 2B-1-1 Chung cư C, đường H, Khu phố A, phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Số nhà B đường H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. ( Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2/Bị đơn: Bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Số nhà B đường H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. ( Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 11 năm 2024 và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Đỗ Ngọc L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông kết hôn với bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, đến năm 2020 ông và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q thuận tình ly hôn theo Quyết định số 466/2020/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi ly hôn, ông và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q xác định vì con nên một lần nữa ông và bà Huỳnh Vũ Thị T Quyên quyết định quay lại sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 99 ngày 05 tháng 9 năm 2022 của UBND phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn trở lại, vợ chồng ông sinh sống tại địa chỉ B - 1-1, chung cư C, đường H, khu phố A, phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống thời gian đầu tương đối hợp nhau, nhưng đến năm 2023 thì vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng ông đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay, ông sống tại thành phố Hồ Chí Minh, bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q về sống tại nhà cha mẹ tại số nhà B đường H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q.

- Về con chung: Ông Đỗ Ngọc L xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên: Đỗ Khánh L1, sinh ngày: 22/4/2008 và Đỗ Ái L2, sinh ngày: 16/12/2009. Sau ly hôn, ông có nguyện vọng giao 02 con cho bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q trực tiếp nuôi dưỡng. Ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con lần lượt đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Ông Đỗ Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Ông Đỗ Ngọc L xác nhận vợ chồng không có nợ chung.

* Đối với bị đơn bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà xác định, thời gian, địa điểm kết hôn và kết hôn lại như ông Đỗ Ngọc L trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đã nhiều lần bà muốn hàn gắn vì con nhưng không có kết quả. Nay ông Đỗ Ngọc L yêu cầu được ly hôn bà, bà đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Bà xác nhận vợ chồng có 02 con chung như ông Đỗ Ngọc L trình bày là đúng. Hiện nay 02 con đang sống cùng bà tại số nhà B đường H, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Sau ly hôn, bà có nguyện vọng tiếp tục được nuôi 02 con, bà không yêu cấp ông Đỗ Ngọc Long D nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q xác nhận vợ chồng không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử nhưng ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.Vì vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q.

[2]Về Nội dung tranh chấp:

[2.1]Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện vào 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, đến năm 2020 ông và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q thuận tình ly hôn theo Quyết định số 466/2020/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi ly hôn, ông và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q xác định vì con nên một lần nữa ông và bà Huỳnh Vũ Thị T Quyên quyết định quay lại sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 99 ngày 05 tháng 9 năm 2022 của UBND phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Đỗ Ngọc L rằng: Ông không còn tình cảm, không còn thương yêu gì đối với bà Huỳnh Vũ Thị T Quyên nữa, hiện nay vợ chồng đã không còn sống chung, không còn quan tâm với nhau, tình cảm giữa ông với bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q không còn. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q.

Đối với bị đơn bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc, nay ông Đỗ Ngọc L yêu cầu ly hôn bà, bà đồng ý ly hôn.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa ông ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q không đạt được mục đích này. Xét thấy cuộc hôn nhân của ông ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn không còn nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 55, 56 luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Đỗ Ngọc L, xử cho ông Đỗ Ngọc L được ly hôn bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q cùng xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên: Đỗ Khánh L1, sinh ngày: 22/4/2008 và Đỗ Ái L2, sinh ngày: 16/12/2009. Sau ly hôn, bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q có nguyện vọng được nuôi 02 con, không yêu cầu ông Đỗ Ngọc L cấp dưỡng. Ông Đỗ Ngọc L đồng ý giao 02 con cho bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q trực tiếp nuôi dưỡng, ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con lần lượt đủ 18 tuổi.

Xét yêu cầu được nuôi con của bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q thì thấy: Việc nuôi dạy con là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ, hiện tại 02 con đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được sống cùng mẹ, nên HĐXX tôn trọng ý kiến của con, và ông Đỗ Ngọc L cũng đồng ý giao 02 con cho bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q trực tiếp nuôi dưỡng, HĐXX căn cứ vào các điều 58, 81, 82, 83, 84 luật HNGĐ năm 2014 xử giao 02 con cho bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q không yêu cầu cấp dưỡng, nhưng ông Đỗ Ngọc L tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con lần lượt đủ 18 tuổi. HĐXX xét thấy tự nguyện cấp dưỡng của ông Đỗ Ngọc L cho 02 con là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này.

[2.3] Về tài sản chung: Ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.

[2.4] Về nợ chung: Ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q cùng xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên HĐXX không đề cập đến.

[3] Án phí sơ thẩm ông Đỗ Ngọc L phải chịu là 600.000 đồng. (Trong đó 300.000 đồng án phí HNGĐ và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.)

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 55, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; các điều 147, 227, 228, 266, 267, 269, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Ngọc L đối với bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Đỗ Ngọc L được ly hôn bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên: Đỗ Khánh L1, sinh ngày: 22/4/2008 và Đỗ Ái L2, sinh ngày: 16/12/2009 cho bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Đỗ Ngọc L tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con lần lượt đủ 18 tuổi.

Bên không nuôi con được quyền đi lại, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.

4. Về nợ chung: Ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị Tú Q cùng xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên HĐXX không đề cập đến.

5.Về án phí: Án phí sơ thẩm ông Đỗ Ngọc L phải chịu là 600.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đỗ Ngọc L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009327 ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, ông Đỗ Ngọc L còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

Báo cho ông Đỗ Ngọc L và bà Huỳnh Vũ Thị T Quyên biết, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS ND quận Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - UBND phường Phú Mỹ, quận 7,
  • thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Trương Thị Hai

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HNGĐ - ST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 70/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Đỗ Ngoc L xin được ly hôn bà Huỳnh Vũ Thị Tú Qu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger