|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 70/2024/HS-PT Ngày 25 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Thu Huyền; |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Vũ; |
| Ông Bùi Xuân Trường. | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Hoàng Thị Vân- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: | Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên. |
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và tại điểm cầu thành phần: Phòng trực tuyến, Trại tạm giam Công an tỉnh P đưa ra xét xử phúc thẩm công khaivụ án hình sự thụ lý số:74/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024; do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T,đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 90/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọđối với bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh T,sinh ngày 11/4/1994; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu A, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị L; Có chồng là Nghiêm Đức T2 và có 02 con (con lớn sinh năm 2018, con bé sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, bị cáo Nguyễn Thanh T bị xử phạt 10 (Mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/5/2024. Hiện bị cáo T đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P. Tại điểm cầu thành phần: Phòng trực tuyến, Trại tạm giam Công an tỉnh P (Có mặt).
- Những người bị hại:
- Anh Phùng Văn M, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Anh Phạm Văn H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Văn T3, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
- Ông Phạm Đình T4, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thục O, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ C, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ(Vắng mặt).
- Bà Vũ Thị T5, sinh năm 1964; địa chỉ: Khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Tiến P, sinh năm 1996; địa chỉ: Khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
- Anh Phan Văn H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Vắng mặt).
- Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu G, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
- Anh Chung Tiến C1, sinh năm 2000; địa chỉ: Khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Do không có việc làm và thu nhập ổn định nên để có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Thanh T6 nảy sinh ý định lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản bằng hình thức đặt mua xe đạp số lượng lớn tại các cửa hàng, đồng thờitạo niềm tin để chủ hàng đồng ý cho T được thanh toán sau khi nhận hàng, sau đó T nhanh chóng bán số xe đạp trên với giá rẻ cho người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cách thức thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau:
1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Phùng Văn M, sinh năm 1993, trú tại: thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh M là chủ cửa hành kinh doanh xe đạp “Mạnh Thu”.Địa chỉ: Khu B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Sáng ngày 15/12/2023, anh Phùng Văn M sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Manh thu” gửi lời mời kết bạn đến tài khoản “Junhi Nguyễn” của T. Sau đó, T gọi điện cho anh M, tự giới thiệu mình tên là L1 ở thị xã P, là người kinh doanh xe đạp, đang muốn mua các loại xe đạp với số lượng lớn. Hai bên trao đổi thống nhất về giá cả, số lượng mua và phương thức thanh toán. Sau khi đã tạo được niềm tin từ anh M, T hứa hẹn khi anh M vận chuyển xong hàng hóa đến các cửa hàng theo yêu cầu thì T sẽ thanh toán tiền cho anh M, anh M đồng ý và thống nhất với T là sẽ trả hoá đơn hàng hoá cho T khi nào thanh toán xong tiền hàng. Thống nhất xong với anh M, T lại tiếp tục sử dụng tài khoản Zalo “Junhi Nguyễn” liên hệ với các cửa hàng kinh doanh xe đạp khác, mục đích là để tìm kiếm nơi tiêu thụ số lượng xe đạp mà T sẽ chiếm đoạt của anh M. Trong các ngày 15/12/2023 và 16/12/2023, T đã ba lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh M.
Lần 1: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, T sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Junhi Nguyễn” tìm kiếm, kết bạn và nhắn tin đến tài khoản Zalo mang tên “Tuấn Dung” của anh Trần Văn T3, sinh năm 1979, trú tại: khu N, xã H, thị xã P (là chủ cửa hàng xe đạp “Tuấn D” có địa chỉ tại: khu N, xã H, thị xã P). T giới thiệu mình là người kinh doanh mua bán xe đạp, hiện đang muốn thay đổi loại hình kinh doanh nên muốn thanh lý, giảm giá một số các loại xe. T báo giá từng loại xe cho anh T3 như sau:
- Xe đạp nhãn hiệu GALAXY TH19 có giá 2.200.000đ/chiếc (thấp hơn giá anh M bán cho T 200.000đ/chiếc).
- Xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY12 có giá 380.000đ/chiếc (thấp hơn giá anh M bán cho T 30.000đ/chiếc).
- Xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY14 có giá 400.000đ/chiếc (thấp hơn giá anh M bán cho T 30.000đ/chiếc).
Anh T7 đồng ý mua 27 chiếc xe đạp gồm: 05 chiếc xe đạp GALAXY TH19; 14 chiếc xe đạp JINHU BABY12; 08 chiếc xe đạp JINHU BABY14. Tổng số tiền anh T7 phải thanh toán cho T là 19.520.000đ (Mười chín triệu, năm trăm hai mươi nghìn đồng). Sau đó, T liên hệ với anh M1 số lượng xe cần mua. Theo báo giá của anh M thì tổng số tiền mà T sẽ phải thanh toán cho anh M đối với lô hàng này là 21.180.000₫ (Hai mươi mốt triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng), hai bên thoả thuận là khi nào T thanh toán xong tiền thì anh M sẽ cung cấp hóa đơn số hàng hóa trên cho T. Thỏa thuận xong, T thông báo cho anh T7 sẽ chuyển hàng vào tối ngày 15/12/2023, mục đích là để lấy lý do kho hàng đã nghỉ nên không thể cung cấp được hóa đơn cho anh T7 và che giấu hành vi lừa đảo của mình. Do không biết về mục đích của T nên anh T7 đồng ý. T thuê anh Đỗ Văn C, sinh năm 1987, trú tại: Khu G, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ vận chuyển số hàng hóa trên, tiền công vận chuyển là 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng). Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, anh C điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29C-090.90 đến cửa hàng của anh M để lấy hàng, anh M là người trực tiếp bàn giao hàng cho anh C. Giao hàng xong cho lái xe, anh M có yêu cầu T trả tiền hàng, lúc này T lấy lý do tài khoản ngân hàng bị lỗi nên không chuyển khoản được cho anh M, do không biết mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T nên anh M đồng ý cho T nợ tiền hàng. Anh C sau khi nhận hàng từ cửa hàng của anh M thì vận chuyển hàng đến cửa hàng của anh T7. Khi giao hàng, cả T và anh T7 đều có mặt kiểm tra đúng số lượng, chủng loại xe đã đặt, anh T7 sử dụng tài khoản Ngân hàng V2 số [...] của mình chuyển khoản hai lần đến tài khoản Ngân hàng A số 8809205102697 của T số tiền 1.140.000đ (Một triệu, một trăm bốn mươi nghìn đồng) và 10.300.000đ (Mười triệu, ba trăm nghìn đồng) còn đưa cho T tiền mặt là 8.000.000đ (Tám triệu đồng), số tiền 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng) T cho lại anh T7. Tổng cộng anh T7 thanh toán cho T số tiền là 19.440.000đ (Mười chín triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng). Sau khi nhận được tiền của anh T7, T sử dụng tài khoản Ngân hàng A số 8809205102697 của mình chuyển đến tài khoản Ngân hàng V2 số [...] của anh C số tiền vận chuyển đã thỏa thuận là 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng). T tiếp tục sử dụng tài khoản số 8809205102697 của mình chuyển đến tài khoản 99862868838888 mở tại Ngân hàng M4, chủ tài khoản là Huỳnh Thị Hồng V số tiền 10.000.712đ (Mười triệu, bảy trăm mười hai đồng) để mua vật phẩm trong trò chơi điện tử trên điện thoại. Sau đó, T đến quán phở “Anh P1” ở khu dân cư L, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để nhờ chị Nguyễn Thị Mai H2, sinh năm 1979 (chủ quán) chuyển tiền vào tài khoản. Chị H2 dùng tài khoản mở tại Ngân hàng V2 số [...] chuyển vào tài khoản Ngân hàng A số 8809205102697 của T số tiền 8.000.000₫ (Tám triệu đồng), T đưa lại cho chị H2 8.000.000đ (Tám triệu đồng) tiền mặt. Nhận tiền vào tài khoản xong, T tiếp tục sử dụng tài khoản 8809205102697 để chuyển tiền đến tài khoản số 26743237 mở tại Ngân hàng A1, chủ tài khoản là Đồng
Ngọc S số tiền 9.001.316₫ (Chín triệu, không trăm linh một nghìn, ba trăm mười sáu đồng) để mua vật phẩm trong trò chơi điện tử trên điện thoại.
Lần 2: Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 15/12/2023, T sử dụng tài khoản Zalo “Junhi N” tìm kiếm, kết bạn và nhắn tin với tài khoản “Lan Tây” của ông Phạm Đình T4, sinh năm 1970, trú tại: Khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (là chủ cửa hàng xe đạp “Lan Thưởng” có địa chỉ tại: khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ), T giới thiệu mình là chủ kho xe đạp tại T đang muốn giới thiệu các sản phẩm xe đạp mới. T báo giá cho ông T4 đối với từng loại xe cụ thể như sau:
- Xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY12 có giá 370.000đ (thấp hơn giá anh M bán cho T 40.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY14 có giá 390.000₫ (thấp hơn giá anh M bán cho T 40.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY16 có giá 410.000₫ (thấp hơn giá anh M bán cho T 40.000đ/chiếc)
Ông T4 đồng ý mua 60 chiếc xe gồm: 20 chiếc JINHU BABY12; 20 chiếc JINHU BABY14; 20 chiếc JINHU BABY16. Tổng số tiền ông T4 phải thanh toán cho T là 23.400.000₫ (Hai mươi ba triệu, bốn trăm nghìn đồng). T liên hệ lại với anh M báo số lượng xe cần mua và thỏa thuận T sẽ thanh toán cho anh M số tiền 25.800.000₫ (Hai mươi lăm triệu, tám trăm nghìn đồng). Cũng với thủ đoạn như lần đầu, T tiến hành giao hàng cho ông T4 vào buổi tối để có lý do không cung cấp hóa đơn cho ông T4. T thuê anh Nguyễn Tiến P, sinh năm 1996, trú tại khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ vận chuyển hàng với giá 1.300.000đ (Một triệu, ba trăm nghìn đồng). Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 15/12/2023, anh P điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 19C-220.97 đến cửa hàng anh M lấy hàng rồi vận chuyển đến cửa hàng L3. Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, T thuê anh Chung Tiến C1, sinh năm 2000, trú tại: khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (là lái xe taxi) chở đến cửa hàng L3, T thanh toán tiền xe cho anh C1 số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) qua tài khoản ngân hàng của T. Đến khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 16/12/2023, anh P vận chuyển hàng đến nơi, T và ông T4 cùng kiểm tra và xác nhận đúng loại xe đã đặt, ông T4 sau khi nhận hàng đã yêu cầu Thủy cung cấp hóa đơn hàng hóa. Nhưng T vẫn lấy lý do trời tối kho hàng đã nghỉ nên không thể cung cấp hóa đơn, hẹn hôm sau sẽ giao hóa đơn cho ông T4. Đến khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 16/12/2023,T yêu cầu ông T4 thanh toán tiền hàng thì sẽ cung cấp hoá đơn cho ông T4 nên ông T4 đã sử dụng tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V2 chuyển khoản đến tài khoản số 8809205102697 của T số tiền 37.400.000₫ (Ba mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng) (trong đó có 23.400.000₫ (Hai mươi ba triệu, bốn trăm nghìn đồng) là tiền T bán số xe đạp đã chiếm đoạt của anh M, số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu) còn lại là số tiền T bán số xe đạp đã chiếm đoạt của anh Phạm Văn H, sinh năm 1990, trú tại: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc điều tra). Sau khi giao hàng cho lái xe, anh M có yêu cầu T trả tiền hàng, T tiếp tục lấy lý do tài khoản ngân hàng bị lỗi không chuyển khoản được cho anh M, do không biết hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T nên anh M tiếp tục cho T nợ tiền. Nhận được tiền hàng của ông T4, T đã sử dụng tài khoản ngân hàng A số 8809205102697 của mình chuyển
khoản đến tài khoản số 02550039803619 mở tại Ngân hàng M5 chủ tài khoản Ma Khánh L2 số tiền 30.000.803₫ (Ba mươi triệu, tám trăm linh ba đồng) và số tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng S1 chủ tài khoản Nguyễn Thành Tấn N1 số tiền 6.900.589₫ (Sáu triệu, chín trăm nghìn, năm trăm tám mươi chín đồng), cả hai lần chuyển tiền đều để mua vật phẩm trò chơi điện tử. Số tiền 1.300.000đ (Một triệu, ba trăm nghìn đồng) là số tiền anh P vận chuyển hàng cho T đến nay T vẫn chưa thanh toán cho anh P.
Lần 3: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 16/12/2023, T dùng tài khoản Zalo “Junhi N” tìm kiếm, kết bạn và nhắn tin với tài khoản Zalo “Xe điện xe đạp Thục Oanh” của bà Nguyễn Thị Thục O, sinh năm 1974, trú tại tổ C, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (là chủ cửa hàng xe đạp “Oanh T5” có địa chỉ tại: Chợ T mới, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. T giới thiệu mình là người kinh doanh xe đạp đang cần thanh lý, xả hàng để lấy tiền mua nhà và báo giá các loại xe cho bà O:
- Xe đạp nhãn hiệu XAMING12 có giá 450.000đ/chiếc (thấp hơn giá anh M bán cho T 160.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu XAMING14 có giá 470.000đ/chiếc (thấp hơn giá anh M bán cho T 160.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu XAMING16 có giá 490.000đ/chiếc (thấp hơn giá anh M bán cho T 160.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu XAMING18 có giá 510.000đ/chiếc (thấp hơn giá anh M bán cho T 160.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu XAMING20 có giá 530.000đ/chiếc (thấp hơn giá anh M bán cho T 160.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY12 có giá 300.000đ (thấp hơn giá anh M bán cho T 110.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY14 có giá 320.000₫ (thấp hơn giá anh M bán cho T 110.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY16 có giá 340.000đ (thấp hơn giá anh M bán cho T 110.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu VENIC 3 có giá 2.300.000đ (thấp hơn giá anh M bán cho T 1.150.000đ/chiếc)
- Xe đạp nhãn hiệu CROLAN có giá 1.400.000đ (thấp hơn giá anh M bán cho T 300.000đ/chiếc)
Hai bên thống nhất xong về giá, bà O đặt mua 106 chiếc xe gồm: 04 chiếc xe đạp XAMING12; 02 chiếc xe đạp XAMING14; 04 chiếc xe đạp XAMING16; 05 chiếc xe đạp XAMING18; 05 chiếc xe đạp XAMING20; 32 chiếc JINHU BABY12; 14 chiếc JINHU BABY14; 22 chiếc JINHU BABY16; 08 chiếc VENIC 3; 10 chiếc CROLAN. Tổng số tiền bà O phải thanh toán cho T là 63.860.000đ (Sáu mươi ba triệu, tám trăm sáu mươi nghìn đồng). Để tiếp tục che giấu hành vi lừa đảo và có lý do không cung cấp hóa đơn, T thỏa thuận với bà O sẽ giao hàng cho bà O vào buổi tối ngày 16/12/2023. Sau đó, T liên hệ đặt số hàng trên từ anh M, hai bên thống nhất số tiền hàng là 86.740.000đ (T8 mươi sáu triệu, bảy trăm bốn mươi nghìn đồng). Anh M yêu cầu T phải thanh toán tổng số tiền hàng cả 03 lần là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), số tiền còn lại 13.720.000₫ (Mười ba triệu, bảy trăm hai mươi
nghìn đồng) T sẽ trả nốt vào ngày 18/12/2023. T hứa sẽ thanh toán số tiền trên khi hàng được giao đến cửa hàng O1. Lần này, anh M thuê anh Phan Văn H1, sinh năm 1985, trú tại: thôn H, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc vận chuyển hàng đến cửa hàng O1 và nhờ anh H1 thu hộ số tiền hàng từ T. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, anh H1 nhận hàng trực tiếp từ anh M rồi điều khiển xe ô tô 29H-557.77 đến cửa hàng “Oanh Thịnh”. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, T tiếp tục thuê anh Chung Tiến C1 lái xe taxi chở T từ thị xã P, tỉnh Phú Thọ đến cửa hàng “Oanh Thịnh”. Khi đến nơi, T thanh toán cho anh C1 số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) bằng hình thức chuyển khoản. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày anh H1 chở hàng đến, lúc này tại cửa hàng chỉ có bà Vũ Thị T5, sinh năm 1964, trú tại: khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (bà T5 và bà O cùng là chủ của cửa hàng O1). Sau khi kiểm tra hàng, bà T5 thấy có 04 chiếc VENIC 3 bị lỗi nên đã trả lại cho anh M2 khi giao hàng, số hàng còn lại bà T5 xác nhận đúng loại xe đặt và nhận hàng. Như vậy, tổng số tiền hàng còn lại bà T5 phải thanh toán cho T là 54.660.000đ (Năm mươi tư triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và số tiền T phải thanh toán cho anh M là 72.940.000₫ (Bảy mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Khi thanh toán, bà T5 dùng tài khoản Ngân hàng V2 số [...] chuyển khoản số tiền 54.000.000đ (Năm mươi tư triệu đồng) đến tài khoản Ngân hàng A số 8809205102697 của T và đưa tiền mặt cho T 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng), T cho lại bà T5 60.000đ (Sáu mươi nghìn đồng). Bà T5 đề nghị Thủy cung cấp hóa đơn nhưng T lấy lý do kho đã nghỉ nên hẹn ngày 17/12/2023 sẽ cung cấp hóa đơn sau. Sau khi nhận được tiền từ bà T5, T đã dùng tài khoản A số 8809205102697 chuyển khoản đến tài khoản Ngân hàng V3, chủ tài khoản Trần Văn H3 số tiền 50.000.496đ (Năm mươi triệu, bốn trăm chín mươi sáu đồng) để mua vật phẩm trong trò chơi điện tử và chuyển khoản trả cho anh Phan Văn H1 số tiền vận chuyển hàng là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Lúc này, anh H1 yêu cầu T thanh toán tiền hàng cho anh M nhưng không thấy T trả tiền. Do T không trả tiền hàng cho anh M nên anh H1 đã thông báo cho anh M về việc T bảo anh H1 đưa đi nhiều nơi để lấy tiền trả nhưng vẫn không có tiền nên anh M bảo anh H1 đưa T về lại đại lý xe đạp O2 T5 ở chợ T12 mới thành phố V thuộc phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để chờ anh M đến giải quyết. Khi anh M đến nơi và qua trao đổi với bà T5 được bà T5 cho biết bà đã thanh toán tiền hàng cho T. Nhận thấy Nguyễn Thanh T có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản, anh M đã làm đơn tố giác gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ việc theo đơn trình báo của đương sự và mở rộng điều tra vụ án, phát hiện thêm các hành vi lừa đảo khác của T như đã nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định yêu cầu định giá đối với số xe đạp mà Nguyễn Thanh T đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Phùng Văn M. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 1081/KL-HĐĐGTS ngày 19 tháng 12 năm2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọkết luận:
a. 05 (năm) chiếc xe đạp người lớn loại GALAXY TH19, chưa qua sử dụng:
Giá 01 (một) chiếc xe đạp người lớn loại GALAXY TH19, chưa qua sử dụng có giá là: 2.400.000đ/chiếc. Thành tiền: 5 chiếc x 2.400.000đ = 12.000.000₫.
b. 04 (bốn) chiếc xe đạp người lớn loại VENIC 3, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp người lớn loại VENIC 3, chưa qua sử dụng có giá là: 3.450.000đ/chiếc. Thành tiền: 4 chiếc x 3.450.000₫ = 13.800.000₫.
c. 10 (mười) chiếc xe đạp người lớn loại CROLAN, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp người lớn loại CROLAN, chưa qua sử dụng có giá là: 1.700.000đ/chiếc. Thành tiền: 10 chiếc x 1.700.000₫ = 17.000.000₫.
d. 66 (sáu mươi sáu) chiếc xe đạp trẻ em loại JINHU BABY12, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp trẻ em loại JINHU BABY12, chưa qua sử dụng có giá là: 410.000đ/chiếc. Thành tiền: 66 chiếc x 410.000₫ = 27.060.000₫.
e. 42 (bốn mươi hai) chiếc xe đạp trẻ em loại JINHU BABY14, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp trẻ em loại JINHU BABY14, chưa qua sử dụng có giá là: 430.000đ/chiếc. Thành tiền: 42 chiếc x 430.000₫ = 18.060.000₫.
f. 42 (bốn mươi hai) chiếc xe đạp trẻ em loại JINHU BABY16, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp trẻ em loại JINHU BABY16, chưa qua sử dụng có giá là: 450.000đ/chiếc. Thành tiền: 42 chiếc x 450.000₫ = 18.900.000₫.
g. 04 (bốn) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING12, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING12, chưa qua sử dụng có giá là: 610.000đ/chiếc. Thành tiền: 4 chiếc x 610.000₫ = 2.440.000₫.
h. 02 (hai) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING14, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING14, chưa qua sử dụng có giá là: 630.000đ/chiếc. Thành tiền: 2 chiếc x 630.000₫ = 1.260.000₫.
i. 04 (bốn) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING16, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING16, chưa qua sử dụng có giá là: 650.000đ/chiếc. Thành tiền: 4 chiếc x 650.000₫ = 2.600.000₫.
j. 05 (năm) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING18, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING18, chưa qua sử dụng có giá là: 670.000đ/chiếc. Thành tiền: 5 chiếc x 670.000₫ = 3.350.000₫.
k. 05 (năm) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING20, chưa qua sử dụng
Giá 01 (một) chiếc xe đạp trẻ em loại XAMING20, chưa qua sử dụng có giá là: 690.000đ/chiếc. Thành tiền: 5 chiếc x 690.000₫ = 3.450.000₫.
Tổng giá trị tài sản của 189 chiếc xe đạp mà T chiếm đoạt của anh M theo kết quả định giá tài sản là: 119.920.000đ. (Một trăm mười chín triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).
2. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Phạm Văn H, sinh năm 1990, trú tại: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; anh H là chủ cửa hàng kinh doanh xe đạp “Hùng C2”. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 15/12/2023, T sử dụng tài khoản Zalo “Junhi N” kết bạn với tài khoản Z “Hùng C2” của anh Phạm Văn H, T giới thiệu mình là người kinh doanh xe đạp và có nhu cầu mua hàng với số lượng lớn. Hai bên thỏa thuận với nhau về giá hàng hóa và hẹn khi anh H giao hàng xong thì T sẽ thanh toán tiền. Sau đó, T liên hệ với ông T4 chủ cửa hàng L3 báo giá xe đạp nhãn hiệu KEJIAN 26 là 1.400.000đ/chiếc (thấp hơn giá anh H bán cho T 280.000đ/chiếc). Ông T4 đồng ý mua 10 chiếc xe đạp KEJIAN 26 và T hẹn buổi tối sẽ giao hàng đến, tổng số tiền ông
T4 phải thanh toán cho T là 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng). Sau đó, T thuê anh Nguyễn Tiến P, sinh năm 1996, trú tại: khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ vận chuyển số hàng này cùng với số hàng của anh M đến cửa hàng L3. Sau khi anh P giao hàng đến nơi, T và ông T4 cùng kiểm tra và xác nhận đúng loại hàng đã đặt, ông T4 đã nhận hàng. Do chưa thanh toán tiền hàng cho anh H nên T không cung cấp được hóa đơn cho ông T4 nên T lấy lý do buổi tối kho hàng nghỉ và hẹn ngày hôm sau sẽ cung cấp hóa đơn. Do vậy, ông T4 cũng chưa thanh toán tiền hàng cho T luôn tại thời điểm giao nhận hàng. Đến khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 16/12/2023, do T thúc giục ông T4 chuyển tiền để trả hoá đơn nên ông T4 đã chuyển khoản số tiền 37.400.000₫ (Ba mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng) (trong đó có 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng) là tiền hàng của anh H và 23.400.000₫ (Hai mươi ba triệu, bốn trăm nghìn đồng) là tiền hàng của anh M). Do không thấy T thanh toán tiền và chỉ nhắn tin trao đổi qua zalo với T mà chưa gặp trực tiếp T lần nào nên anh H không xác định được đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình là ai. Vì vậy, anh H đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trình báo sự việc trên. Kết quả xác minh giải quyết tin báo, đến ngày 31/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra xác định ngoài hành vi phạm tội nêu trên thì Nguyễn Thanh T còn có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với phương thức, thủ đoạn tương tự trên địa bàn thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do vậy, để công tác điều tra, giải quyết vụ án được tiến hành thuận lợi, ngày 14/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định số: 22/QĐ-VKS-P1 chuyển vụ án trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ để thụ lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã ra quyết định yêu cầu định giá đối với số xe đạp mà Nguyễn Thanh T đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Phạm Văn H.Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 01 năm2024của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:Giá của 10 (mười) chiếc xe đạp thể thao hai bánh, loại thường, không gắn động cơ, khung bằng sắt đã sơn phủ, lốp cao su, kích thước vành 26 inch, chiều cao yên 73 cm, nhãn hiệu Kejian 26, màu đen mới chưa qua sử dụng tại thời điểm tháng 12/2023 là:14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng).
Như vậy, tổng số xe đạp các loại mà T đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Phùng Văn M và Phạm Văn H là 199 chiếc (trong đó anh M 189 chiếc; anh H 10 chiếc). Theo kết luận định giá tài sản, tổng giá trị của 199 chiếc xe đạp mà T đã chiếm đoạt của anh Phùng Văn M và anh Phạm Văn H là 133.920.000đ. (Một trăm ba mươi ba triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi được tổng số 159 xe (trong đó anh T7 27 xe; bà Oanh T9 102 xe; ông T4 30 xe). Số xe không thu hồi lại được là 40 chiếc (trong đó có 30 chiếc xe JINHU BABY12, 14, 16 của anh M, ông T4 đã bán cho các khách lẻ, không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không thu hồi lại
được; 10 chiếc xe KEJIAN 26 của anh H ông T4 đã bán cho khách lẻ, không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không thu hồi được).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ T đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đối với anh Trần Văn T3, ông Phạm Đình T4, bà Nguyễn Thị Thục O, bà Vũ Thị T5 là những người mua xe đạp của T. Anh Nguyễn Tiến P, anh Phan Văn H1, anh Đỗ Văn C là những người được thuê vận chuyển xe đạp đến nơi giao hàng. Anh Chung Tiến C1 là lái xe taxi chở T đến các địa điểm giao hàng. Những người này đều không biết về mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với số tiền 10.000.712₫ (Mười triệu, bảy trăm mười hai đồng) T chuyển tiền cho chủ tài khoản mang tên Huỳnh Thị Hoàng V1; Số tiền 9.001.316đ (Chín triệu, không trăm linh một nghìn, ba trăm mười sáu đồng) T chuyển tiền cho chủ tài khoản mang tên Đồng Ngọc S; Số tiền 30.000.803₫ (Ba mươi triệu, tám tăm linh ba đồng) T chuyển tiền cho chủ tài khoản mang tên Ma Khánh L2; Số tiền 6.900.589₫ (Sáu triệu, chín trăm nghìn, năm trăm tám mươi chín đồng) T chuyển tiền cho chủ tài khoản mang tên Nguyễn Thành Tấn N1 và số tiền 50.000.496đ (Năm mươi triệu, bốn trăm chín mươi sáu đồng) T chuyển tiền cho chủ tài khoản mang tên Trần Văn H3, đây là tiền T dùng để mua vật phẩm trong trò chơi điện tử. Quá trình điều tra, xác định các chủ tài khoản này đều không có mặt tại địa phương, nơi cư trú, không rõ đi đâu, làm gì, không ai liên lạc được nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọđã Quyết định:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 56, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1, 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 04 (B) năm tù. Tổng hợp hình phạt 10 (Mười) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 04 (Bốn) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 13/5/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thanh T.
Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Kháng cáo: Ngày 29/8/2024 bị cáo Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không bổ sung tình tiết mới nào.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T. Giữ nguyên Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọđối với bị cáo Nguyễn Thanh T.
Về án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T10 hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy những người này đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung vụ án: Do không có việc làm và thu nhập ổn định nên để có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Thanh T6 nảy sinh ý định lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản bằng hình thức đặt mua xe đạp số lượng lớn tại các cửa hàng, đồng thờitạo niềm tin để chủ hàng đồng ý cho T được thanh toán sau khi nhận hàng, sau đó T sẽ nhanh chóng bán số xe đạp trên với giá rẻ cho người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thông qua mạng xã hội Zalo, T vào các nhóm buôn bán xe đạp để tìm kiếm đối tượng nhằm thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tìm nơi tiêu thụ tài sản. Trong các ngày 15/12/2023 và 16/12/2023, T đã sử dụng tài khoản Zalo của mình đăng ký bằng tên “Junhi Nguyễn” để nhắn tin, gọi điện cho các anh Phùng Văn M là chủ cửa hành kinh doanh xe đạp “Mạnh Thu” ở khu B, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúcqua tài khoản Zalo của anh M tên là “Manh Thu” và anh Phạm Văn H là chủ cửa hàng kinh doanh xe đạp “Hùng C2”, địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc quatài khoản Zalo của anh H tên là “Hùng Cối”để trao đổi về việc đặt mua xe đạp các loại. Thông qua các cuộc gọi, nói chuyện, T đưa ra các thông tin gian dối nhằm tạo niềm tin, khiến cho anh M và anh H lầm tưởng T có nhu cầu mua xe đạp của mình là thực sự, từ đó đồng ý để giao hàng cho T mà không buộc phải thanh toán tiền luôn. Ngay sau đó, T đem số xe đạp đã nhận từ cửa hàng của anh M và anh H bán cho các cửa hàng kinh doanh xe đạp khác trên địa bàn thành phố V, tỉnh Phú Thọ và thị xã P, tỉnh Phú Thọ với giá thấp hơn giá nhập vào. Số tiền bán xe, T đã tiêu xài vào mục đích cá nhân mà không thanh toán tiền hàng cho anh M và anh H. Trong hai ngày 15 và 16/12/2023, T đã 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Phùng Văn M và 01 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Phạm Văn H. Cụ thể:
Lần 1: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 15/12/2023, Nguyễn Thanh T lừa đảo chiếm đoạt của anh Phùng Văn M 27 chiếc xe đạp các loại trị giá 21.180.000₫ (H4 mươi mốt triệu, một trăm tám mươi nghìn đồng). Số xe này T đã đem bán cho cửa hàng xe đạp “Tuấn D” có địa chỉ tại khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thu được số tiền 19.440.000₫ (Mười chín triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
Lần 2: Khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 15/12/2023, Nguyễn Thanh T lừa đảo chiếm đoạt của anh Phạm Văn H 10 chiếc xe đạp KEJIAN 26 trị giá 14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng). Số xe đạp này T đã đem bán cho cửa hàng xe đạp “Lan T11” có địa chỉ tại khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thu được số tiền 14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng)..
Lần 3: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 15/12/2023, Nguyễn Thanh T lừa đảo chiếm đoạt của anh Phùng Văn M 60 chiếc xe đạp các loại trị giá 25.800.000₫ (Hai mươi lăm triệu, tám trăm nghìn đồng). Số xe đạp này T đã đem bán cho cửa hàng xe đạp “Lan T11” có địa chỉ tại khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thu được số tiền 23.400.000đ (Hai mươi ba triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Lần 4: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 16/12/2023, Nguyễn Thanh T lừa đảo chiếm đoạt của anh Phùng Văn M 102 chiếc xe đạp các loại trị giá 72.940.000₫ (Bảy mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Số xe đạp này T đã đem bán cho Cửa hàng “Oanh T9” có địa chỉ tại chợ T12 mới, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thu được số tiền 54.600.000đ (Năm mươi tư triệu, sáu trăm nghìn đồng).
Tổng số xe đạp mà T đã chiếm đoạt của anh M và anh H là 199 chiếc. Trong đó có 159 chiếc xe đạp lừa đảo của anh M đã thu hồi được, còn 30 chiếc xe đạp lừa đảo của anh M và 10 chiếc xe đạp lừa đảo của anh H không thu hồi được.
Tổng giá trị tài sản bị cáo Nguyễn Thanh T đã lừa đảo chiếm đoạt theo kết luận định giá là 133.920.000đ (Một trăm ba mươi ba triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra tội phạm, phù hợp với lời khai của các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáoNguyễn Thanh Thủy xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có ông ngoại là ông Phạm Văn K được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” do trong khoảng thời gian từ 11 giờ 30 phút, ngày 15/12/2023 đến khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 16/12/2023
bị cáo đã 04 lần thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, ngày 26/12/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo T. Quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo đã tự ý rời khỏi nơi cư trú và phạm tội mới nên ngày 13/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra lệnh bắt để tạm giam đối với bị cáo T. Bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm tội mới và bị cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, tỉnh Lào Cai ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can vào ngày 25/3/2024 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã xét xử và tuyên phạt bị cáo 10 (M3) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 04 (Bốn) năm tùvềtội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp với quy định của pháp luật, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được thêm tài liệu, chứng cứ nào mới để làm cơ sở giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ đểxem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4].Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
[5].Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6].Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T. Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọđối với bị cáoNguyễn T.
[2]. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 56, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1, 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử :
[2.1].Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
[2.2]. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 04 (B) năm tù. Tổng hợp hình phạt 10 (Mười) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 04 (Bốn) năm, 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 13/5/2024.
[2.3]. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thanh T.
[2.4]. Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải trả lại cho anh Trần Văn T3 số tiền 19.440.000₫ (Mười chín triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải trả lại cho bà Vũ Thị T5 số tiền 54.600.000₫ (Năm mươi tư triệu, sáu trăm nghìn đồng).
- Buộc ông Phạm Đình T4 phải nộp lại số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) để trảlại cho anh Phạm Văn H.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
- Ghi nhận ông Phạm Đình T4 không buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải trả lại cho ông số tiền 37.400.000₫ (Ba mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng).
- Ghi nhận các anh Phan Văn H1, Đỗ Văn C, Chung Tiến C1 không buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải trả lại cho anh H1 số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), không phải trả lại cho anh C số tiền 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng) và không phải trả lại cho anh C1 số tiền 660.000₫ (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Ghi nhận anh Nguyễn Tiến P không buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải trả lại cho anh số tiền1.300.000đ (Một triệu, ba trăm nghìn đồng).
- Ghi nhận anh Phạm Văn H không buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải trả lại cho anh số tiền 16.800.000đ (Mười sáu triệu, tám trăm nghìn đồng) cũng như không buộc T phải trả lại cho anh tiền chênh lệch giá trị của 10 chiếc xe đạp là 1.800.000đ (Một triệu, tám trăm nghìn đồng).
- Ghi nhận ông Phạm Đình T4 không yêu cầu anh Phùng Văn M phải trả lại cho ông số tiền lãi chênh lệch bán 30 chiếc xe đạp là 1.420.000đ (Một triệu, bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
[2.5]. Về xử lý vật chứng:
- Xác nhận ngày 28/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Phùng Văn M số tiền 13.160.000₫ (Mười ba triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền ông Phạm Đình T4 bán 30 chiếc xe đạp của anh M, anh M đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác.
- Xác nhận ngày 28/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã trả lại cho anh Phùng Văn M 159 chiếc xe đạp do bị cáo Nguyễn Thanh T lừa đảo chiếm đoạt, anh M đã nhận đủ 159 chiếc xe đạp và không có yêu cầu gì khác, cụ thể như sau:
- + 27 chiếc xe đạp gồm: 05 chiếc xe đạp nhãn hiệu GALAXY TH19; 14 chiếc xe đạp JINHU BABY12 và 08 chiếc xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY14 là số xe đạp anh Trần Văn T3 đã mua của T, anh T3 đã tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- + 102 chiếc xe đạp gồm: 04 chiếc xe đạp nhãn hiệu XIAMING12; 02 chiếc xe đạp nhãn hiệu XIAMING14; 04 chiếc xe đạp XIAMING16; 05 chiếc xe đạp XIAMING18; 05 chiếc xe đạp XIAMING20; 32 chiếc xe đạp JINHU BABY12; 14 chiếc xe đạp JINHU BABY14; 22 chiếc xe đạp JINHU BABY16; 04 chiếc VENIC 3;
- 10 chiếc CROLAN là số xe đạp bà Vũ Thị T5 đã mua của T, bà T5 tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- + 30 chiếc xe đạp gồm: 08 chiếc xe nhãn hiệu JINHU BABY12; 16 chiếc xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY14; 06 chiếc xe đạp nhãn hiệu JINHU BABY16 là số xe đạp ông Phạm Đình T4 đã mua của T còn lại chưa bán, ông T4 tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X màu sơn trắng, số IMEL: 356742082901882, đã qua sử dụng. (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số, trên sim có số 8984048000923202151. (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền 2.060.000đ (Hai triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Hiện đang được tạm giữa tại tài khoản số 3949.0.1053895.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tại Kho bạc Nhà nước tỉnh P theo Ủy nhiệm chi ngày 18/7/2024 do Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ chuyển tiền vật chứng theo quyết định số 1847 ngày 18/7/2024 cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền 3.137.022đ (Ba triệu, một trăm ba mươi bảy nghìn, không trăm hai mươi hai đồng) trong tài khoản số 8809205102697 của Ngân hàng N2 - Chi nhánh P2 nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Theo Lệnh phong tỏa tài khoản số: 97/LPT-ĐĐTTH ngày 14/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ).
[2.6].Về án phí hình sự :Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1, 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩmvà 3.702.000₫ (Ba triệu, bảy trăm linh hai nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.
- Ông Phạm Đình T4 phải chịu 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Huyền |
Bản án số 70/2024/HS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 70/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Nguyễn Thanh T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
