|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 18-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Xuân
- Ông Phạm Minh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Ông Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 530/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu N, sinh năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số C, Khu phố I (Khu phố F cũ), thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: Nhà không số, Khu phố G (Khu phố E cũ), thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Sửa xe; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 0/12; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị H; Vợ: Không; Con: Không.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C - T, Công an Thành phố H.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 457/82 C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 14/7/2024, Tổ tuần tra 363 - Công an huyện N tiến hành tuần tra trên tuyến đường H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến chân cầu P, Khu phố B, thị trấn N, huyện N thì tiến hành kiểm tra hành chính với Nguyễn Hữu N đang điều khiển xe môtô biển số 59U1-445.16. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của N đang mặc có 02 gói nylon chứa tinh thể. N khai nhận đó là ma túy đá do N mua để sử dụng. Tổ tuần tra tiến hành đưa N cùng vật chứng về trụ sở Công an thị trấn N, huyện N làm rõ.
Tại trụ sở Công an thị trấn N, huyện N tiếp tục kiểm tra đối với Nguyễn Hữu N, phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của N đang mặc có 03 gói nylon chứa tinh thể. N khai nhận đó là ma túy đá do N mua để sử dụng. Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N giải quyết.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Nguyễn Hữu N khai nhận: Nguyễn Hữu N sử dụng ma túy đá từ khoảng tháng 03/2024. Khi cần mua ma túy sử dụng, N đến khu vực đường T, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh tìm gặp người thanh niên chạy xe honda ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy đem về nhà cất giữ để sử dụng dần. Vào ngày 10/7/2024, N điều khiển xe môtô biển số 59U1-445.16 đến khu vực trên gặp người thanh niên chạy xe honda ôm mua 05 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. N đã sử dụng hết 02 gói còn 03 gói Nghĩa cất giữ trong túi quần để sử dụng sau. Sáng ngày 14/7/2024, N mang theo 03 gói ma túy còn lại cất giữ trong túi quần bên trái phía trước rồi tiếp tục điều khiển xe môtô biển số 59U1- 445.16 đến khu vực trên gặp người thanh niên chạy xe honda ôm mua thêm 02 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Mua được ma túy, N cất vào túi quần bên phải phía trước N đang mặc rồi điều khiển xe về nhà. Sau đó, N điều khiển xe môtô đi mua cơm, trên đường đi đến chân cầu P thuộc Khu phố B, thị trấn N, huyện N thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 8414/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu trong 05 gói nylon được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,4733 gam, loại Mathamphetamine.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số 69/CT-VKS-NB ngày 15 tháng 10 năm 2024 và sau khi phân tích, luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt Nguyễn Hữu N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- - Tinh thể không màu có khối lượng 1,3108 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra là vật cấm lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen thu giữ của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
- - 01 xe môtô biển số 59U1-445.16 thu giữ của bị cáo. Qua điều tra xác định do ông Nguyễn Thanh B trú tại 4 C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên nhưng hiện nay đi đâu làm gì không rõ. Nguyễn Hữu N khai nhận mua lại chiếc xe môtô trên từ năm 2022 của một người thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch, không làm thủ tục mua bán và thủ tục sang tên đổi chủ. Vào ngày 10/7/2024 và ngày 14/7/2024, N đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua ma túy thì bị bắt giữ. Đề nghị Hội đồng xét xử giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu, hết hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an huyện N và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu N đã thừa nhận vì nghiện ma túy nên ngày 14/7/2024, chính bị cáo đã cất giữ số ma túy có trọng lượng 1,4733 gam, loại Mathamphetamine để sử dụng dần.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tệ nạn ma túy là hiểm họa và nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ khả năng nhận thức được việc cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, chống lại chủ trương bài trừ ma túy của Đ và Nhà nước nhưng vì nhu cầu nghiện hút, không làm chủ được bản thân và đặc biệt là xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội như đã nêu trên. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an chung.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, để răn đe riêng và phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên: Xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, cũng không có tài sản và tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát cũng không đề nghị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Tinh thể không màu có khối lượng 1,3108 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra là vật cấm lưu hành, xét tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen thu giữ của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, xét trả lại cho bị cáo.
- - Giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe môtô biển số 59U1-445.16. Hết hạn 01 năm kể từ ngày Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Hữu N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Tịch thu, tiêu hủy: Tinh thể có khối lượng 1,3108 gam được niêm phong, có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra.
- - Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu N chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, số Imei 1: 869540051888233, số Imei 2: 869540051888225, đã qua sử dụng và chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei: 352891101495998, đã qua sử dụng.
- - Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu xám, biển số 59U1 – 445.16, số khung: RLCL44S10DY072072, số máy: 44S1 - 072043, đã qua sử dụng. Hết hạn 01 năm kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
(Theo phiếu nhập kho số 2025-NK006 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Long |
Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XX
