TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST Ngày 09-10-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tiến;
Ông Nguyễn Văn Tới.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 47/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị P, sinh năm 1980, nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Bá M, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đoàn Thị P trình bày: Chị và anh Nguyễn Bá M tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T ngày 16/12/2000. Quá trình chung sống anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau do anh M ham chơi, không chăm lo cho gia đình, vợ con. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân từ khoảng năm 2020 đến nay, không quan tâm, liên lạc với nhau. Xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể đoàn tụ, chị P yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh M. Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Bá L, sinh ngày 11/9/2001 và Nguyễn Bá T, sinh ngày 11/12/2007. Con Nguyễn Bá L đã thành niên, không phải nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị P nhận nuôi con Nguyễn Bá T; không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thông báo về việc thụ lý vụ án hợp lệ cho anh Nguyễn Bá M nhưng anh M không giao (nộp) cho Toà án văn bản trình bày quan điểm của anh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia tố tụng. Theo thông tin anh Nguyễn Bá Đ (anh trai anh M) cung cấp, anh M có quan điểm cho rằng mâu thuẫn giữa anh và chị P đã trầm trọng, anh đồng ý ly hôn chị P; đồng ý giao con Nguyễn Bá T cho chị P nuôi dưỡng; không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung và đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt anh.
Tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Chị P và anh M tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2000. Quá trình chung sống, giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Khoảng năm 2021, giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng, anh M tuyên bố sẽ ly hôn chị P và bỏ đi làm ăn, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm nhau. Mặc dù gia đình đã động viên, thuyết phục hoà giải mâu thuẫn nhưng không thành. Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Bá L và Nguyễn Bá T; cháu L đã thành niên, không phải nuôi dưỡn; cháu T đang sống cùng chị P và có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Chị P hiện đang làm chăn nuôi trang trại, có thu nhập và chỗ ở ổn định.
Y kiến của Kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không giao nộp văn bản trình bày quan điểm, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo thông báo của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về nội dung: Mâu thuẫn vợ chồng chị P và anh M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, xử cho chị P được ly hôn anh M; giao con chung Nguyễn Bá T, sinh ngày 11/12/2007 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Con Nguyễn Bá L, sinh ngày 11/9/2001 đã thành niên, không phải nuôi dưỡng nên không xem xét, giải quyết. Chị P là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị P, anh M có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Đoàn Thị P khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Bá M, cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
[2] Việc anh M không giao nộp văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, không tham gia tố tụng tại Tòa án là tự mình từ bỏ các quyền và không chấp hành các nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị P và anh M.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị P và anh Nguyễn Bá M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N ngày 16/12/2000 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Lời khai của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Chị P và anh M xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng, đã được gia đình hoà giải nhưng không thành; vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm nhau từ khoảng năm 2021 đến nay. Do đó, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị P và anh M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận, xử cho chị P được ly hôn anh M.
[5] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Bá L, sinh ngày 11/9/2001 và Nguyễn Bá T, sinh ngày 11/12/2007. Con L đã thành niên, không phải nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Xét thấy từ khi vợ chồng ly thân, con Tuy sống cùng chị P; chị P có thu nhập và chỗ ở ổn định để đảm bảo việc nuôi con. Việc giao con cho chị P nuôi dưỡng sẽ bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con, phù hợp với ý kiến của các đương sự và nguyện vọng của con. Do đó cần căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con Nguyễn Bá T cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị P và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết; xét thấy quyền lợi của con vẫn được bảo đảm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[6] Về tài sản chung: Chị P và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (chị Đoàn Thị P):
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đoàn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Bá M.
2. Về con chung: Giao con Nguyễn Bá T, sinh ngày 11 tháng 12 năm 2007 cho chị Đoàn Thị P trực tiếp nuôi. Không giải quyết việc cấp dưỡng cho con do chị P và anh M không yêu cầu. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 09 tháng 10 năm 2024 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Con Nguyễn Bá L, sinh ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã thành niên, không phải nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Đoàn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chị P đã nộp đủ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009073 ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
Chị P và anh M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Xuyến |
Bản án số 70/2024/HNGĐ-ST ngày 09/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 70/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH P-M
