Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHỤNG HIỆP

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thái Thơ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Giới

Ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 19/TB-TA ngày 24 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Duy T, sinh ngày 19/10/1986 tại D, Trà Vinh; nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: nhân viên Trung tâm phát triển quỹ đất huyện P; trình độ học vấn: đại học; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Trịnh Thị Thu H; bị cáo có vợ và có 01 người con; tiền án: không; tiền sự: không.

Ngày 12/4/2024 bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, sau đó chuyển tạm giam đến ngày 05/8/2024 được cho bảo lĩnh tại ngoại cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Thành V, sinh năm 1975 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Võ Ngọc Minh D, sinh năm 1988 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp C, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

- Người làm chứng:

  1. Bà Lư Thị Đ (có mặt)
  2. Ông Huỳnh Tấn K (có mặt)
  3. Ông Châu Nhựt T1 (có mặt)
  4. Bà Nguyễn Thị Hồng N (có mặt)
  5. Ông Huỳnh Thanh N1 (có mặt)
  6. Bà Võ Ngọc O (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ ngày 11/4/2024, bị cáo Trần Duy T lấy điện thoại di động của vợ là chị Võ Ngọc Minh D để chơi cờ tướng (chơi game), khi mở điện thoại lên thì bị cáo T phát hiện tin nhắn qua ứng dụng Zalo giữa chị D với ông Nguyễn Thành V - Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học P (chị D là giáo viên của trường), bị cáo T kiểm tra tin nhắn thì phát hiện nội dung tin nhắn giữa hai người có mối quan hệ không bình thường, sau đó bị cáo T tiếp tục sử dụng điện thoại của bị cáo đăng nhập vào tài khoản Zalo của chị D, trong phần lịch sử truy cập bị cáo phát hiện chị D vào nhà nghỉ, lúc này chị D thừa nhận đã cùng ông V vào nhà nghỉ 03 lần, cụ thể: Lần thứ nhất nhà nghỉ tại huyện V không nhớ tên, lần thứ hai và thứ ba nhà nghỉ K1 tại thị trấn C.

Đến khoảng 06 giờ 00 phút ngày 12/4/2024, bị cáo T nảy sinh ý định gây thương tích cho ông V, bị cáo chuẩn bị 01 chai xịt hơi cay, 02 vỏ chai bia thủy tinh hiệu Larue bỏ vào balo rồi điều kiển xe môtô nhãn hiệu Airblade, mang biển kiểm soát: 84F1-211.43 đến Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp nộp đơn ly hôn với chị D. Sau khi gửi đơn tại Tòa án, bị cáo T điện thoại cho anh Trần Hoàng G là giáo viên của trường, rủ anh G đi nhậu và kêu anh G rủ thêm ông V, anh G không đồng ý, nên bị cáo T gọi điện thoại cho ông V rủ đi nhậu thì ông V đồng ý, ông V kêu bị cáo T đến trường. Đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo T đến khu vực nấu ăn nơi bị cáo T làm việc (Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện P) thì thấy có 01 con dao lưỡi bằng kim loại, cán gỗ nên bị cáo T lấy con dao bỏ vào balo rồi điều khiển xe môtô nói trên đến Trường tiểu học P để gặp ông V, khi đến trường bị cáo T gọi điện thoại cho ông V, ông V trả lời “Đang dạy học trên lầu”, kêu bị cáo T ngồi ghế đá đợi, ông Vũ D1 xong rồi cùng đi nhậu. Bị cáo T ngồi đợi khoảng 02 phút thì thấy anh Huỳnh Tấn K và chị Võ Ngọc O là giáo viên, anh Châu Nhựt T1 là nhân viên bảo vệ trường đang đứng trước sân trường nên bị cáo T đi đến nói chuyện khoảng 10 giờ thì bị cáo T nhìn thấy ông V từ trên lầu đi xuống nên bị cáo T đi đến phòng làm việc của ông V, bị cáo T lấy chai xịt hơi cay cầm trên tay và giấu sau lưng, bị cáo T hỏi ông V “Em tính hỏi anh cái vụ anh với vợ em”, khi nghe bị cáo T hỏi thì ông V đứng dậy định đi ra khỏi phòng thì bị cáo T liền dùng chai hơi cay xịt vào mặt ông V, ông V lấy tay đỡ, bị cáo T tiếp tục lấy từ balo ra vỏ chai bia Larue đánh trúng vào người ông V, vỏ chai bia bị bể, bị cáo T tiếp tục cầm phần cổ chai bia còn lại đâm vào vùng bụng ông V, ông V bỏ chạy ra sân trường, bị cáo T tiếp tục lấy con dao trong balo đuổi theo chém trúng vào tay ông V, ông V tiếp tục bỏ chạy thì té ngã xuống sân trường, bị cáo T dùng dao chém trúng vào chân của ông V. Lúc này anh Huỳnh Thanh N1 và Huỳnh Tấn K can ngăn và lấy được con dao của bị cáo. Sau khi bị gây thương tích ông V được mọi người đưa đi cấp cứu, bị cáo T điều khiển xe mô tô đến Công an xã P đầu thú hành vi phạm tội và giao nộp hung khí gây án.

Đối với ông Nguyễn Thành V: Thừa nhận có phát sinh tình cảm nam nữ với chị D, có cùng chị D vào nhà nghỉ để nhằm mục đích quan hệ tình dục, ông V có đòi hỏi quan hệ tình dục nhưng chị D không đồng ý. Đối với bà Võ Ngọc Minh D: Thừa nhận vào khoảng tháng 9 năm 2023 thì phát sinh tình cảm nam nữ với ông V, do ông V chủ động nhắn tin, có vào nhà nghỉ cùng ông V 03 lần đều có quan hệ tình dục.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 98/KLTTCT-TTPY ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh H kết luận thương tích đối với ông Nguyễn Thành V như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Sẹo phần mềm bàn ngón tay phải, cẳng tay trái và gót chân trái.
    • Gãy xương gót chân trái.
  2. Kết luận:

    2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể Nguyễn Thành V tại thời điểm giám định là: 19% (Mười chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

    2.2. Tỷ lệ thương tích từng vết thương:

    • Vết thương mô cái - ngón I bàn tay phải gây tổn thương cơ thể hiện tại. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là: 03% (Ba phần trăm).
    • Vết thương mặt sau liên đốt xa ngón IV bàn tay phải gây tổn thương cơ thể hiện tại. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là: 01% (Một phần trăm).
    • Vết thương mặt ngoài sau liên đốt xa ngón V bàn tay phải gây tổn thương cơ thể hiện tại. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là: 01% (Một phần trăm).
    • Vết thương mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái gây tổn thương cơ thể hiện tại. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là: 03% (Ba phần trăm).
    • Vết thương gót chân trái (gãy xương gót) tổn thương cơ thể hiện tại. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là: 11% (Mười một phần trăm).
    • Mặt trong và mặt ngoài gót chân trái có hai vết xuyên đinh mỗi vết gây tổn thương cơ thể hiện tại. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là: 01% (Một phần trăm).

    2.3. Cơ chế hình thành vết thương:

    • Các vết thương mô cái - ngón I bàn tay phải; Vết thương mặt sau liên đốt xa ngón IV bàn tay phải; Vết thương mặt ngoài sau liên đốt xa ngón V bàn tay phải; Vết thương gót chân trái do vật sắc bén tác động trực tiếp gây nên.
    • Vết thương mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

    2.4. Vật gây thương tích:

    • Các vết thương mô cái - ngón I bàn tay phải; Vết thương mặt sau liên đốt xa ngón IV bàn tay phải; Vết thương mặt ngoài sau liên đốt xa ngón V bàn tay phải; Vết thương gót chân trái do vật sắc bén tác động trực tiếp gây nên.
    • Vết thương mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái do vật tày có cạnh gây nên.

Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKS-HPH ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã truy tố bị cáo Trần Duy T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Duy T phạm tội Cố ý gây thương tích.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Duy T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo xe mô tô, điện thoại di động, tiền Việt Nam, 01 áo sơ mi, 01 quần tây; các vật chứng còn lại tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong nên không đặt ra xem xét.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Thống nhất với Cáo trạng và luận tội của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa. Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại: Không yêu cầu bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự. Đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo đơn đã gửi cho cơ quan điều tra trước đó.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Trần Duy T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vào khoảng 10 giờ ngày 12/4/2024, bị cáo đã có hành vi dùng hung khí là bình xịt hơi cay, vỏ chai bia và dao tấn công bị hại là ông Nguyễn Thành V vì cho rằng ông V và vợ của bị cáo là bà Võ Ngọc Minh D có hành vi quan hệ tình cảm không bình thường ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân của bị cáo. Hậu quả là hành vi của bị cáo gây tổn thương cơ thể của bị hại Nguyễn Thành V 19%. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là dùng hung khí nguy hiểm là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Lẽ ra khi phát hiện sự việc bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý trách nhiệm đối với ông Nguyễn Thành V và bà Võ Ngọc Minh D nhưng bị cáo lại sử dụng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn là trái quy định của pháp luật. Do vậy, cần thiết phải xem xét trách nhiệm hình sự với mức hình phạt tương xứng nhằm mục đích giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an để đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, tỏ ra ăn năn hối cải, thực hiện bồi thường toàn bộ thiệt hại đối với bị hại. Trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi nên cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Gia đình bị cáo có người thân có công với cách mạng nên xem xét áp dụng các quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có khả năng tự cải tạo, giáo dục. Do vậy, việc cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để giúp bị cáo trở thành người công dân tốt nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Trong vụ án này, Hội đồng xét xử cũng nghiêm khắc phê phán hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân gia đình của ông Nguyễn Thành V và bà Võ Ngọc Minh D. Bởi lẽ, nguyên nhân của tội phạm cũng xuất phát từ hành vi trái pháp luật của ông V và bà D do vậy cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P kiến nghị xử lý về mặt Đảng đối với bị hại là đúng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan công an huyện P tiếp tục xem xét trách nhiệm pháp lý của của ông Nguyễn Thành V và bà Võ Ngọc Minh D, trường hợp có cơ sở thì khởi tố hình sự hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Trường hợp không đủ cơ sở thì quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về hành chính.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự đã thỏa thuận xong trong quá trình điều tra nên không đặt ra xem xét. Do không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ dân sự nên số tiền 30.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp bị cáo được nhận lại.

[8] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng gồm có 01 điện thoại di động, 01 xe mô tô và tiền Việt Nam 910.000 đồng, cùng với quần áo của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Các vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên;

  1. Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Duy T phạm Tội Cố ý gây thương tích.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Duy T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách án treo là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/10/2024).

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự

    Bị cáo Trần Duy T được nhận lại số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) theo biên lai thu số 0002352 ngày 01/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trả cho bị cáo Trần Duy T: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A56, số sêri: 9D8XGUZHJNPJKFGE, sim số: 0913707577; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Airblade, màu đỏ, bạc, đen mang biển kiểm soát: 84F1-211.43 do Trần Duy T là chủ sở hữu; Tiền Việt Nam: 910.000 đồng; 01 áo sơ mi tay ngắn màu trắng có nhiều hoa văn màu xanh (đã qua sử dụng); 01 quần tây màu đen (đã qua sử dụng).

    Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 balô màu xám, kích thước 40x30, có hai ngăn kéo và quay đeo, có viền màu đỏ, có dòng chữ “New Windows.edu.vn – Nơi học viên được quan tâm!” và dòng chữ “Đào tạo ngoại ngữ: Anh-H-N-Hàn” được thiêu màu trắng (đã qua sử dụng); 02 vỏ chai bia hiệu Larue, loại 330ml (01 chai đã vỡ); 01 cây dao sắt bản vuông có tổng chiều dài 35cm, rộng 9cm cán bằng gỗ, cuối bản dao có lỗ tròn, dạng dao dùng chặt dừa (đã qua sử dụng); 01 chai hơi cay, nhãn hiệu NATO cao 15cm.

  4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Trần Duy T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý hành vi vi phạm pháp luật của ông Nguyễn Thành V và bà Võ Ngọc Minh D.
  6. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phụng Hiệp;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Công an huyện Phụng Hiệp;
  • - Chi cục THADS huyện Phụng Hiệp;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hà Thái Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 08/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger