Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HS-ST

Ngày 27/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 70/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024;

Đối với bị cáo: Phạm Văn T, sinh ngày 20/8/2003 tại: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn K; con bà Lê Thị L; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2024 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc K1 – Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 6, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Chị Lê Thị T1, sinh năm 1970, địa chỉ: Khu phố T, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Anh Bùi Tiến Đ, sinh năm 1999, địa chỉ: Số nhà B đường P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Hữu T2, sinh năm 1993, địa chỉ: Khu phố T, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Chị Đỗ Thị D, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1975, địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  4. Anh Phạm Văn D1, sinh năm 2000, địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  5. Anh Lê Hữu N, sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  6. Chị Nguyễn Thị Hồng Á, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 19/6/2024, Phạm Văn T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen mang biển kiểm soát 36C2-018.75 của anh trai là Phạm Văn D1 (sinh năm 2000, trú tại thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) để đi chơi. Quá trình đi chơi, do cần tiền nạp game nên T gọi điện thoại cho D1 nói có việc cần tiền, xin D1 cho cầm cố xe thì D1 đồng ý. Sau đó, T mang xe đến hiệu cầm đồ Hải Dung ở Thôn A, xã X, huyện T, gặp chủ cửa hiệu là Đỗ Thị D (sinh năm 1980) cầm cố chiếc xe được 20.000.000 đồng. T sử dụng nạp game chơi hết số tiền này.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, T đi bộ lang thang trên vỉa hè bên trái dọc đường Quốc lộ 47, thuộc thị trấn S, huyện T (hướng từ khu phố T đi khu phố B, thị trấn S) thì nhìn thấy vỉa hè bên phải có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen bạc, biển kiểm soát 36D1-689.21 (xe của anh Trần Hữu T2, sinh năm 1993, trú tại khu phố T, thị trấn S cho mẹ đẻ là bà Lê Thị T1, sinh năm 1970, trú tại khu phố T, thị trấn S mượn sử dụng), đang dựng ở vỉa hè, cắm sẵn chìa khoá ở ổ khoá nên T nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền nạp game. T quan sát thấy bà Lê Thị T1 đang ngồi bán cá bên trong vỉa hè nên nghĩ là xe mô tô của bà T1. T giả vờ lại hỏi mua cá của bà T1 và thống nhất mua một con cá rô phi. Bà T1 đang làm thịt cá thì T nói “cháu về lấy tiền rồi quay lại”. Khi bà T1 không chú ý quan sát thì T đi lại ngồi lên xe mô tô biển kiểm soát 36D1-689.21, vặn chìa khóa nổ máy đi xe xuống đường về hướng sân bóng thị trấn S rồi rẽ phải đi ra đường đôi Cảng hàng không T. Sau đó, T đi theo đường Quốc lộ 47 về hướng thành phố T để tìm nơi bán xe trộm cắp. Bà Lê Thị T1 sau khi phát hiện bị mất trộm xe đã trình báo Công an thị trấn S.

Khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, khi đi qua huyện Đ đoạn phường Đ, thành phố T, T thấy trên vỉa hè bên phải đường trước Trường mầm non T3 có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu nâu đen, biển kiểm soát 36B8 - 250.24, cắm sẵn chìa khoá ở ổ khoá (xe của anh Bùi Tiến Đ, sinh năm 1999, trú tại phường Đ, Thành phố T). T thấy chiếc xe này mới hơn, nghĩ sẽ bán được nhiều tiền hơn nên quay lại để trộm cắp. T đi xe lên vỉa hè không thấy ai chú ý thì để lại chiếc xe máy biển kiểm soát 36D1- 689.21 rồi ngồi lên chiếc xe nhãn hiệu Honda Future, biển kiểm soát 36B8 - 250.24, vặn chìa khóa nổ máy đi về hướng huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Anh Bùi Tiến Đ phát hiện chiếc xe bị mất trộm đã báo cáo Công an phường Đ, thành phố T.

Khoảng hơn 13 giờ 30 cùng ngày, T đi đến cửa hàng mua bán xe máy cũ Hoa Nam của anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1975, ở thị trấn T, huyện T để bán xe mô tô biển kiểm soát 36B8 - 250.24. Khi bán xe T lấy đăng ký xe mang tên Bùi Tiến Đ (có sẵn trong cốp xe) và nói chiếc xe là của mình, có việc cần tiền nên bán. Anh H thấy T cung cấp được đăng ký xe, nghĩ là xe chính chủ nên đồng ý mua với giá 17.800.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T nhờ anh H đi xe ô tô chở đến xã T, huyện T. Sau đó, T đi bộ đến quán ăn của anh Lê Hữu N (sinh năm 1997, trú tại thôn B, xã T, huyện T) nhờ N chở đến cửa hàng V1 ở thôn A, xã T, huyện T. T nhờ chủ cửa hàng là Nguyễn Thị Hồng Á (sinh năm 1994) chuyển 17.000.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng T4 19039566209017 mang tên Phạm Văn T. Sau khi nhận được tiền vào tài khoản thì T tiếp tục nạp game chơi hết số tiền trên.

Ngày 20/6/2024, khi được Cơ quan điều tra Công an huyện T triệu tập, biết không thể trốn tránh được pháp luật, Phạm Văn T đã xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngày 19/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 1436/YC-ĐCSHS để xác định giá trị của 02 (hai) chiếc xe môtô tại thời điểm bị chiếm đoạt. Tại Kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐG ngày 21/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • Giá trị của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đen bạc, đã qua sử dụng, số khung RLHJA3922MY099919, số máy JA39E2217219, biển kiểm soát 36D1-689.21, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá: 16.800.000 đồng.
  • Giá trị của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Future, màu sơn đen nâu, đã qua sử dụng, số khung RLHJC7652MY019115, số máy JC90E0122698, biển kiểm soát 36B8-250.24, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá: 25.360.000 đồng.

Tổng giá trị của tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là: 42.160.000đồng (Bốn mươi hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 03 File video do chị Nguyễn Thị V, anh Lê Hữu N và chị Nguyễn Thị H1 giao nộp thể hiện hình ảnh Phạm Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 28/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành trưng cầu giám định kỹ thuật số đối với 03 file video trên. Tại kết luận giám định số 2665/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 (ba) tệp video của 03 (ba) đĩa CD gửi giám định.

*Về đồ vật, tài liệu thu giữ và vật chứng của vụ án:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đen bạc, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36D1-689.21; xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu sơn đen nâu, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36B8-250.24; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade màu đen, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36C2-018.75; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade màu đen, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36C2-018.75; 01 căn cước công dân 03800006119 mang tên Phạm Văn D1; 01 hợp đồng cầm đồ ngày 19/6/2024, bên vay Phạm Văn D1, bên cho vay Đỗ Thị D, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp.
  • 01 phong bì niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh T bên trong có 03 đĩa CD lưu giữ 03 file video do chị Nguyễn Thị V, anh Lê Hữu N và chị Nguyễn Thị H1 giao nộp; 02 phong bì bên trong có 02 đĩa CD lưu giữ file video ghi lại quá trình hỏi cung, lấy lời khai bị can Phạm Văn T đi kèm theo hồ sơ vụ án.

*Về phần dân sự:

Phạm Văn T đã nhờ gia đình bồi thường lại số tiền đã bán chiếc xe trộm cắp 17.800.000 đồng cho anh Nguyễn Duy H, trả lại số tiền cầm cố xe mô tô 20.000.000 đồng cho chị Đỗ Thị D. Anh H, chị D không có yêu cầu đề nghị gì thêm; Bà Lê Thị T1, anh Bùi Tiến Đ đã nhận lại xe mô tô bị trộm cắp và không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSTX ngày 19/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Bị cáo Phạm Văn T về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “trộm cắp tài sản”;

Về hình phạt đề nghị:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 18 (mười tám) tháng tù đến 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2024.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Không xem xét

Về án phí: Buộc bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát như trình bày ở trên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò, nhân thân, nhận thức, hoàn cảnh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khi phạm tội để xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người làm chứng; Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, tại đường Q thuộc khu phố T, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Phạm Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đen bạc, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36D1-689.21 của bà Lê Thị T1, trị giá 16.800.000 đồng và khoảng 11 giờ cùng ngày tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, T tiếp tục có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu sơn đen nâu, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 36B8-250.24 của anh Bùi Tiến Đ, trị giá 25.360.000 đồng. Tổng trị giá tài sản T trộm cắp là 42.160.000 đồng (Bốn mươi hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ cấu thành tội “trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Bị cáo vì mục đích vụ lợi, đã bất chấp pháp luật để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp 02 lần, với mỗi lần đều trên 2.000.000 đ nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động để người nhà bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần thiết xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, bắt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo đang là sinh viên, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về bồi thường đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án: Không xem xét.

[8] Về các tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với việc T cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen mang biển kiểm soát 36C2-018.75 của anh trai Phạm Văn D1 cho chị Đỗ Thị D lấy 20.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Phạm Văn D1 khai báo đã đồng ý cho T cầm cố xe lấy tiền sử dụng và chiếc xe đã được Cơ quan điều tra trả lại cho Phạm Văn D1. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý hành vi Phạm Văn T cầm cố xe mô tô của Phạm Văn D1 là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Duy H có hành vi mua chiếc xe mô tô do Phạm Văn T trộm cắp mà có, nhưng anh H không biết chiếc xe là tài sản trộm cắp. Vì vậy, không có căn cứ xử lý anh Nguyễn Duy H về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[9] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, người bào chữa đề nghị miễn án phí cho bị cáo, nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “trộm cắp tài sản”;
  2. - Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2024.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn T.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại là anh Bùi Tiến Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại là chị Lê Thị T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 70/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 70/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: fsf
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger